Ở thôn Đoài độ này có nhiều chuyện hay lắm. Trước đây thì người người chan hòa, láng giềng hạnh phúc hồn hậu vui vẻ. Ấy thế mà từ khi đất cát lên ngôi, đồng tiền định giá thì muôn người xâu xé, gom tiền mua đất mua cát để mong có một tấc đất cắm dùi. Ông Bá tưởng chừng trong cái cuộc đời binh nghiệp đầy rẫy vinh quang của mình, sẽ chẳng bao giờ phải dính vào cái chuyện đất cát thối tha này, nhưng đời đâu có dễ chiều lòng người như thế.
Ông Bá về hưu khi mái tóc mới lốm đốm bạc mà ngực áo vẫn còn in đậm mấy hàng huân chương cao quý. Thiếu tướng một đời quen bước trên sân duyệt binh, quen nghe tiếng giày dội xuống nền xi măng thẳng băng như kẻ chỉ, ấy vậy mà ngày trở về thôn Đoài, ông lại thấy mình như đứng trước một bức tranh khác hẳn: cổng nhà nào cũng xây cao thêm một tấc, hàng rào nào cũng nở ra như muốn nuốt lấy phần đường làng, còn cái giếng chung đầu xóm thì đã bị người ta lấp gần nửa để “dự phòng mở rộng đất”.
Ông chỉ chẹp miệng, nhìn ngang nhìn dọc rồi nghĩ bụng:
-Chắc cơn loạn này nó chừa nhà mình ra.
Nhà ông Bá nằm cuối xóm, có cái sân gạch đỏ đã cũ, một dãy chuối trước hiên nhà và một mảnh đất sau vườn tuy không rộng nhưng cũng đủ cho người ta nuôi mấy luống rau, trồng vài bụi cau cùng dựng một cái chòi tre tránh nắng. Ngày trước, mảnh đất ấy chẳng ai ngó ngàng. Mưa xuống thì đất thở phì phò, nắng lên thì cỏ ngả rạp mình bò kín lối. Ông bà vẫn bảo: đất nhà mình, cứ để đó mà giữ hơi quê. Giữ cái nếp người, cũng như giữ cái gốc rễ tổ tiên.
Ấy thế mà từ khi mấy lô đất ngoài quốc lộ được sang tay liên tiếp, từ khi người ta kháo nhau “đất là vàng”, “đất để đó là thiệt”, cái yên ổn của thôn Đoài bắt đầu nứt ra như bờ ruộng tháng hạn. Người trước bán cho người sau, người sau lại bán cho cò đất, mà mỗi lần sang tên là một lần mắt họ sáng lên như bắt được của rơi. Đám trẻ thì bàn chuyện đầu tư, đám già thì bàn chuyện giữ đất, còn cái làng quê từng chỉ biết mùa màng, giỗ chạp, nay bỗng đầy hơi người lạ, đầy tiếng xe vun vút, đầy những câu “mấy mét vuông” nghe lạnh tanh như kim loại.
Ông Bá đã quen nhìn người đời qua lằn ranh thật giả trong chiến trận, vậy mà ở chốn quê nhà, ông lại thấy những cuộc mặc cả còn mệt hơn cả đánh trận. Có nhà vì một sào đất mà anh em nhìn nhau như kẻ thù. Có ông cụ tóc bạc phải ký vào giấy bán vườn vì con cái thúc ép. Có người ngồi giữa sân, vừa đếm tiền vừa khóc, mà nước mắt không biết là mừng hay tủi.
Ông Bá không thích những chuyện ấy. Ông càng không thích cái điệu người ta lôi tình nghĩa ra cân đong với giá cả. Ông nghĩ: đời lính của mình, khổ là khổ vì kỷ luật, vì gian nan, chứ không phải để lúc về già lại phải đem ruộng vườn ra mặc cả như món hàng ngoài chợ.
Vậy mà rồi chiều hôm ấy, khi ông đang lom khom tỉa lại mấy gốc hồng trước sân thì điện thoại rung lên. Màn hình hiện tên con trai ông là Huy.
Ông bắt máy, nghe giọng nó ở đầu dây bên kia nhỏ đi một nhịp, rồi cất lên rất khẽ:
-Bố ạ… con tính bàn với bố một chuyện. Mảnh đất sau vườn ấy… hay là bố bán đi cho con lấy vốn làm ăn?
Ông Bá đặt điện thoại xuống, mặt vẫn lạnh như một phiến đá lâu ngày không đổi màu. Câu nói của thằng Huy còn lơ lửng trong đầu ông như một làn khói mỏng, nhưng ông không để nó kịp bén thành lửa. Mảnh vườn sau nhà, với ông, không chỉ là một mảnh đất. Nó là chỗ ông nội Huy từng trồng mấy khóm chuối tiêu, là nơi bà Mận những đêm mất điện vẫn ra ngồi quạt mo cau mà ngồi ngâm thơ, là khoảng đất ngập nắng mỗi sáng, nơi ông vẫn thường chống tay nhìn ra bờ dậu mà nhớ những năm tháng bão đạn đã qua.
Ông đáp qua điện thoại, giọng gọn lỏn mà cứng như đóng đinh:
-Không bán đâu, đất tiên tổ, bán xẻ cái nỗi gì.
Huy ở bên kia đầu dây im một lúc rồi lại năn nỉ. Nó nói làm ăn bây giờ phải có vốn, cơ hội không chờ ai, đất để đó thì cũng chỉ là đất. Nó nói rất nhiều, nói đến khản cả giọng, nào là bạn bè đồng trang lứa đã có cửa hàng, có xe, có chỗ đứng; nào là mình không thể mãi quẩn quanh với hai bàn tay trắng. Lời của nó không hẳn vô lý, nhưng mỗi câu vừa dứt thì ông Bá đã lắc đầu, dù bên kia dây điện không thể nhìn thấy.
-Cơ hội gì thì cơ hội, nhưng cũng không được đụng vào đất nhà này - ông nói, từng chữ nện xuống nền sân như búa gõ - Đất này là đất ông bà để lại. Đó là cái gốc, cái rễ cho hôm nay. Mất gốc, mất rễ rồi thì còn làm ăn cái nỗi gì?
Huy cố hết nước hết cái. Nó nhắc đến bạn bè, nhắc đến cảnh làm ăn mãi mà chẳng khấm khá, nhắc đến những khoản chi tiêu đang chất chồng lên vai. Nó gần như van lơn. Nhưng ông Bá vẫn nhất định một mực. Ông không to tiếng nhiều, song cứ hễ nghe thấy chữ “bán đất” là nét mặt lại sầm xuống, như thể có ai vừa chạm vào điều cấm kỵ. Cuối cùng, Huy đành thở dài, chào bố qua loa rồi cúp máy.
Hai hôm sau, bà Mận mới là người bị kéo vào cuộc chiến không tiếng súng ấy. Bà là kiểu đàn bà cả đời nhẫn nhịn, nói năng mềm như rơm khô mà lòng thì dai như chão. Bà biết tính chồng mình cố chấp, song vẫn nghĩ từ tốn khuyên can thì may ra ông nghe. Nào ngờ vừa mới nhắc được câu đầu: “Hay là mình tính lại xem…” thì ông Bá đã đập mạnh chén nước xuống bàn, mắt trợn lên:
-Tính cái gì mà tính? Bà cũng bùi tai nghe theo nó à?
Bà Mận giật mình, chưa kịp đáp thì ông đã xối xả:
-Đất là đất, không phải cái thúng cái mủng để muốn bán là bán. Cả đời tôi vào sinh ra tử, về già lại để con cái xúi mình chia đôi xẻ nửa nốt cái nền nhà thì còn ra thể thống gì!
Bà Mận đỏ mặt, miệng mấp máy. Bà định nói rằng thời thế đã khác, rằng con cái cũng chỉ lo tương lai, rằng giữ đất mà không biết xoay xở thì nhà cũng khó. Nhưng mỗi lần bà vừa hé lời, ông Bá lại chặn ngay bằng một tràng mắng. Tiếng ông vang trong căn bếp nhỏ, va vào vách, bật ngược lại, nghe buồn bã và cứng cáp như thanh thép nguội.
Bà Mận ngậm miệng. Bà cúi xuống nhặt cái chén bị ông gõ lệch sang một bên, lòng thì tràn ngập ngổn ngang. Bà hiểu chồng mình không phải không thương con, chỉ là ông giữ đất như giữ danh dự, giữ những năm tháng đã đi qua bằng một thứ bám víu cuối cùng. Còn Huy thì đang bị cuộc đời dồn ép, cần vốn, cần một lối ra, cần một chỗ để bắt đầu.
Ngoài sân, gió lùa qua mấy tàu chuối sau vườn, xao xác như tiếng ai thở dài. Bà Mận nhìn ra mảnh đất nhỏ ấy, nơi cỏ còn xanh và đất còn thơm mùi mưa cũ, rồi nhìn vào khuôn mặt nghiêm như tượng của chồng, bỗng thấy trong nhà mình cũng đang có một cuộc xâu xé âm thầm, chẳng kém gì ngoài làng ngoài xã.
Huy biết chỉ mỗi lời nói của mình thì khó mà lay chuyển nổi cái đầu cứng như đá núi của ông Bá, nên nó mới lân la tìm đến cò Đại, một tay môi giới đất có tiếng trong vùng, miệng lưỡi dẻo như kẹo kéo, nói một thành mười, thả một câu là người nghe cũng tưởng đất dưới chân mình sắp hóa vàng. Huy bao cho hắn một chầu rượu, dặn dò đủ điều, mong hắn đến nói khéo vài câu cho bố mình xuôi lòng. Cò Đại gật gù, miệng cười nham nhở, bảo chuyện ấy dễ như trở bàn tay:
-Bố cậu là người từng trải, cứ để tôi thưa chuyện cho phải phép, thế nào cũng đả thông được tư tưởng.
Chiều ấy, cò Đại mặc cái áo sơ mi trắng phẳng phiu, cổ tay đeo chiếc đồng hồ bóng loáng, xe máy dựng ngoài ngõ như một vệt chói chang lạc vào không khí quê mùa. Hắn vừa bước qua cổng đã cất giọng lễ phép, ngọt như mía lùi:
-Cháu chào bác Bá ạ. Cháu là chỗ quen biết của cậu em Huy, hôm nay có đôi lời xin phép được thưa chuyện với bác…
Ông Bá đang ngồi trên chõng tre ở hiên, tay quệt diêm châm điếu cày. Nghe cái giọng ấy, ông ngẩng lên, đôi mắt vẫn còn cái thần sắc của người từng ra lệnh giữa hàng quân nghiêm chỉnh. Chỉ một cái liếc qua bộ dạng bóng bẩy của cò Đại, ông đã đoán ra mùi đất cát nồng nặc sau lớp lời ngon tiếng ngọt kia.
Cò Đại chưa kịp ngồi xuống thì ông Bá đã đặt mạnh điếu cày xuống nền gạch, giọng khô khốc như thép chạm đá:
-Cậu đến đây làm gì?
Dạ thưa chưa hết câu, cò Đại đã bắt đầu thao thao bất tuyệt nào là giá đất đang lên, nào là khu sau vườn để không thì phí, nào là bán đi vừa có vốn cho Huy làm ăn, lại còn chẳng mất gì vì đất vẫn là đất của nhà mình, có tiền thì đời mới khấm khá. Hắn nói trơn tru, tay còn khua khoắng như đang vẽ sẵn trước mắt ông Bá một tương lai sáng sủa.
Nhưng mỗi lời của hắn như một cục đá ném vào chậu nước đang lặng như tờ. Ông Bá càng nghe càng đỏ mặt. Vầng trán vốn đã hằn sâu nếp nhăn nay càng xám đi, bàn tay gân guốc siết chặt cây điếu cày. Đến câu cò Đại buông ra:
-Đất bây giờ là tài sản, bác ạ, giữ làm gì cho nó nằm chết yểu.
Ông Bá nghe đến đây thì rít lên một tiếng, đứng phắt dậy.
-Im ngay!
Tiếng quát khiến cả khoảng sân như co rúm lại. Cò Đại còn chưa kịp hiểu chuyện gì thì ông Bá đã chụp lấy điếu cày, bước nhanh tới, quát vang như sấm dậy:
-Cút khỏi nhà tôi! Đất nhà tôi không phải món hàng cho các anh bày trò ăn chia chênh lệch! Cút! Cút ngay!
Nói rồi ông rút mạnh điếu cày, chỉ thẳng ra cổng. Cò Đại hoảng hồn, mặt tái đi, lùi mấy bước liền. Hắn còn cố cười lấy lệ, nhưng thấy ánh mắt ông Bá sắc như lưỡi lê thì đành ngậm miệng, quay đầu đi vội như bị đuổi khỏi doanh trại. Chiếc xe máy nổ phành phạch, lủi nhanh ngoài ngõ, để lại một luồng bụi mỏng và mùi xăng hăng hắc.
Trong sân, bà Mận từ nãy đã run bần bật. Bà biết tính chồng cương trực thẳng thắn, nhưng không ngờ ông lại nổi giận đến thế. Thấy cò Đại vừa khuất, bà vội sụp xuống nền gạch, hai tay chắp trước ngực, giọng nghẹn ngào:
-Ông ơi, xin ông bình tĩnh… có gì mình từ từ nói…
Ông Bá vẫn đứng sừng sững, ngực phập phồng. Bà Mận bò thêm mấy bước, nước mắt ròng ròng:
-Con nó cũng chỉ muốn lo cho tương lai. Mình thương con thì cũng phải nghe nó một chút…
Ông Bá cúi xuống nhìn bà, mắt ông lúc này không còn dữ dằn như lúc đuổi cò Đại, mà nặng như đeo cả một đời binh nghiệp, một đời giữ danh dự để cố giữ lấy cái nếp nhà. Tiếng gió sau vườn lùa qua rặng chuối, làm lá xào xạc như một tiếng thở dài rất dài của đất.
Ở ngoài ngõ, thằng Huy đứng lặng từ lúc nào không hay. Nó nghe hết, thấy hết, và lần đầu tiên hiểu rằng mảnh vườn nhỏ sau nhà không chỉ là mảnh đất. Nó là nơi cha nó bấu víu vào để chống lại cả một cơn lốc đang cuốn phăng mọi thứ quanh mình. Nhưng nó cũng biết, nếu cứ để thế này, cơn lốc ấy sớm muộn rồi sẽ cuốn cả gia đình nó vào cùng một vết nứt không sao hàn lại được.
Thế mà càng thế nó lại càng quyết chí bán cái đất ấy. Nó hiểu ông Bá không phải kiểu người nghe vài câu ngon ngọt mà xuôi tai mềm lòng, càng không phải loại thấy tiền bạc phủ phê là đổi ý. Nghĩ mãi, Huy mới lại bày ra một kế khác, lần này còn khôn lỏi hơn trước: nó nhờ ông Lãm, cán bộ địa chính xã, sang nhà nói chuyện về “quy hoạch”, “thu hồi đất”, “mở rộng hạ tầng”. Huy tính bụng, hễ ông Bá nghe đến chuyện nhà nước thu hồi, thế nào cũng sẽ rối lên mà chấp nhận bán bớt mảnh vườn, rồi mọi chuyện sẽ êm xuôi.
Chiều hôm đó, ông Lãm đến trong bộ sơ mi đóng thùng, cặp tài liệu kẹp chặt dưới nách, mặt mũi làm ra vẻ nghiêm cẩn như đang đi kiểm tra công trình lớn. Ông ta vừa ngồi xuống chiếc ghế gỗ ngoài hiên vừa hắng giọng:
-Bác Bá này, tôi qua đây cũng là theo chủ trương. Khu vực sau vườn nhà bác có khả năng nằm trong diện xem xét quy hoạch, nếu bác hợp tác sớm thì sau này cũng đỡ phiền phức…
Ông Bá ngồi đối diện, mặt không đổi sắc. Ông không đáp ngay, chỉ đưa tay rót chén nước chè xanh, rồi lặng lẽ nhìn người cán bộ trẻ đang cố giữ vẻ điềm tĩnh mà hai đầu gối đã bắt đầu gõ nhẹ vào nhau. Cái nhìn ấy của ông Bá, từng trải qua bao cuộc đối mặt căng thẳng hơn thế, khiến Lãm tự nhiên thấy cổ họng khô khốc.
Ông Bá hỏi ngắn gọn:
-Quy hoạch nào thế ông cán bộ địa chính?
Lãm mở cặp, lôi ra mấy tờ giấy, giọng mềm đi một chút:
-Dạ… đây là danh mục các tuyến, các dự án trên địa bàn. Có đường liên xã, có khu dân cư mới, có mở rộng trường học…
Ông Bá nhận lấy, đeo kính, xem từng dòng một. Tờ nọ sang tờ kia, ông lật rất chậm, ánh mắt đi từ đầu đến cuối không sót một chữ. Trong sân, tiếng ve kêu ran ran mà không át nổi sự im lặng nặng nề đang phủ xuống. Mặt ông càng xem càng lạnh. Cuối cùng, ông gõ nhẹ ngón tay lên tờ giấy, cất giọng chắc nịch:
-Thưa ông quan xã, không có nhà tôi trong danh sách này.
Ông Lãm khựng lại. Ông Bá lại giở tiếp mấy tờ khác, lật đi lật lại, rồi nhấn mạnh từng chữ:
-Đây là dự án đường trên xóm Đông. Đây là trường học. Đây là khu chợ mới. Còn mảnh vườn nhà tôi, không nằm trong bất cứ thứ gì hết. Cậu định dùng giấy tờ để dọa tôi à?
Lãm tái mặt. Môi ông ta mấp máy, mồ hôi rịn ra dưới thái dương. Kế của Huy bị bóc trần quá nhanh, mà người bóc trần lại là một ông già về hưu tưởng đã lui về sau rèm khói bếp. Ông Lãm bối rối đến mức hai bàn tay cứ xoắn vào nhau.
-Dạ… bác Bá… chuyện này… cháu cũng chỉ nghe người ta nhờ nói lại…
Ông Bá đặt xấp giấy xuống bàn. Ánh mắt ông không còn dữ như lúc đuổi cò Đại, nhưng lại sâu và nặng như bóng chiều phủ lên ruộng. Ông hiểu ngay: đây không phải chuyện quy hoạch, mà là chuyện thằng Huy đang sốt sắng tìm mọi cách bẻ tay ông để giành lấy mảnh đất.
Lãm thấy mình không còn đường lùi. Ông ta bất ngờ đứng bật dậy rồi lại quỳ sụp xuống nền hiên, giọng run run:
-Bác ơi… bác đừng đem chuyện này ra xã. Cháu sai rồi. Cháu chỉ… chỉ vì nể người quen mà sang nói vu vơ thôi. Xin bác thương cháu…
Ông Bá nhìn cảnh ấy, lòng thoáng chùng xuống. Người đàn ông từng quen nhìn cấp dưới nghiêm chỉnh giữa hàng ngũ nay lại thấy một cán bộ trẻ quỳ ngay trước sân nhà mình, mặt cắt không còn giọt máu. Ông thở ra một hơi rất dài, rồi đưa tay ra hiệu:
-Đứng dậy đi ông quan xã.
Lãm vẫn còn run, không dám nhúc nhích. Ông Bá chậm rãi nói:
-Tôi không làm lớn chuyện. Nhưng từ nay, đừng lấy giấy tờ mà bày trò hù dọa người khác. Đất đai là chuyện lớn, đụng vào là đụng đến gốc rễ nhà người ta đấy ông quan xã ạ.
Lãm nghe xong, gần như muốn khóc. Ông ta đứng dậy, cúi đầu liên tục, lùi từng bước như sợ thêm một câu nữa sẽ bị lột trần hết những toan tính vụng về của mình. Chỉ đến khi ông Bá phẩy tay cho đi, ông ta mới dám quay lưng rảo bước ra cổng.
Trong sân, gió lại thổi qua mấy luống rau sau vườn. Ông Bá ngước nhìn khoảng đất nhỏ ấy, nơi cỏ dại chen nhau xanh non, rồi khẽ lắc đầu. Ông đã tha cho Lãm, nhưng trong lòng ông lúc này, nỗi buồn còn lớn hơn giận. Bởi ông biết, kẻ thật sự không dễ tha thứ nhất chính là thằng con trai ruột của mình, đứa đang từng ngày dồn ông vào thế phải lựa chọn giữa tình cha con và tấc đất giữ nhà.
Đêm ấy, sau khi Lãm đã về, sau khi bà Mận gom lại những chén bát vẫn còn vương tiếng cãi vã, căn nhà ông Bá lặng đi như một doanh trại sau giờ tắt đèn. Huy ngồi ở thềm, hai tay đan vào nhau, mắt nhìn xuống khoảng sân gạch loang loáng ánh trăng. Nó chờ một trận quát mắng nữa, một cái lắc đầu nữa, hoặc chí ít là một sự im lặng lạnh lùng kéo dài đến sáng hôm sau. Nhưng không, ông Bá chỉ ngồi ở chiếc chõng tre, chậm rãi tháo chiếc đồng hồ cũ trên cổ tay, như người ta tháo một món đồ đã theo mình qua cả một đời binh nghiệp.
Ông mở chiếc hộp gỗ nhỏ cất trong ngăn tủ, nơi ông vẫn để số tiền lương hưu gom góp từng tháng. Bà Mận nhìn thấy, vội đứng bật dậy:
-Ông làm gì thế?
Ông Bá không trả lời ngay. Ông đếm từng xấp tiền, động tác chậm mà chắc, rồi xếp lại ngay ngắn. Đó không phải là món tiền lớn gì với người khác, nhưng với ông, nó là những buổi sáng nhịn mua thuốc lá, là những hôm trời rét vẫn không bật thêm quạt sưởi, là cái cách ông sống tiết kiệm đến khắc khổ chỉ để phòng lúc gia đình cần đến. Ông cầm xấp tiền ấy, đặt vào tay Huy.
Huy sững người, ngẩng phắt lên:
-Bố…?
Ông Bá nhìn thẳng vào mặt con trai. Ánh mắt ông không còn như hôm đuổi cò Đại, không còn như lúc quát bà Mận, mà chậm rãi và sâu như mặt nước giếng cũ sau hè. Ông nói từng chữ một, giọng trầm, không nặng nhưng đủ khiến người ta phải nghe cho kỹ:
-Cầm lấy mà làm ăn. Nhưng hãy nhớ rằng, đây không phải tiền để con đem đi đốt. Cũng không phải để con nghĩ mình có thể thắng người ta bằng sự nóng ruột và vội vàng.
Huy cắn môi, tay run lên khi nhận xấp tiền. Nó không ngờ chính người vừa giữ đất như giữ danh dự lại là người chủ động mở tay trước. Ông Bá nhìn con, rồi chậm rãi nói tiếp:
-Con là con của một Thiếu tướng thì đừng có suy nghĩ ngông cuồng. Làm gì cũng phải biết lắng lại. Người ta nhìn xa trông rộng thì mới đi được đường dài. Đất có thể giữ, cũng có thể tính. Tiền có thể làm ra, cũng có thể mất. Nhưng cái mất đáng sợ nhất là mất cái đầu tỉnh táo và lạnh lùng đấy con ạ.
Ông ngừng một lát, rồi đưa tay chỉ ra sau vườn. Ngoài kia, mảnh đất nhỏ lặng lẽ nằm dưới trăng, cỏ non chạm gió khẽ rung lên như sóng. Ông nói rất khẽ, nhưng mỗi chữ như rơi xuống đất mà nảy mầm:
-Bố giữ đất không phải để ôm chết nó. Bố giữ vì đó là gốc nhà mình. Còn con, nếu thật sự muốn làm ăn, thì trước hết phải đứng cho vững trên chính đôi chân mình. Khi nào con biết nhìn rộng trông xa ra, con mới hiểu có những thứ không phải cứ bán đi hay giữ lại là xong.
Huy cúi đầu. Lần đầu tiên từ đầu cuộc cãi vã đến giờ, nó không cãi một lời nào. Nó nhìn xấp tiền trong tay mà thấy nặng hơn cả một mảnh đất. Nặng vì đó là sự nhường nhịn của người cha, là lòng tin ít ỏi nhưng quý hơn vàng, là cái cách một đời lính cuối cùng chọn mềm đi để giữ lấy gia đình khỏi vỡ tan.
Bà Mận đứng bên cửa, mắt đỏ hoe. Bà hiểu ông Bá đã thắng cơn cố chấp của chính mình để thua cho con một con đường. Và trong cái thua ấy, hóa ra lại có một điều đắt giá hơn mọi cuộc mặc cả ngoài chợ đất: ông đã giữ được mảnh vườn, nhưng cũng không đánh mất đứa con.
Ngoài sân, trăng vẫn sáng. Gió vẫn đi qua hàng chuối sau hè. Chỉ có tiếng ông Bá vang lên sau cùng, rất nhẹ mà như còn ngân mãi trong đêm:
-Làm người, điều quan trọng không phải là giữ được bao nhiêu đất. Mà là giữ được lòng mình, giữ được nếp nhà.
Đăng nhập để bình luận và ủng hộ tác giả
Đăng nhập ngay