Màn đêm bữa đó đã sụp xuống tự hồi nào, bóng tối phủ đen thui cả cái xóm nhỏ ven sông. Bữa nay đâu phải đêm rằm nên trên trời hổng có lấy một miếng trăng, cũng chẳng thấy ngôi sao nào ló mặt. Bốn phía tối đen như mực, chỉ nghe tiếng chó sủa vang vang đầu xóm, cuối xóm, rồi tiếng dế gáy rỉ rả, tiếng ển ương ngoài mương kêu ồm ộp nghe não ruột. Đám dừa nước ven sông bị gió đưa qua đưa lại, lá cạ nhau xạc xào không dứt. Sau hàng dừa nước đen thui ấy là mấy mái nhà tranh cao thấp lổm chổm, nhô lên trong bóng tối.
Trong xóm, nhà nào nhà nấy bắt đầu thắp đèn dầu. Ánh đèn vàng hắt qua khe vách lá, len lỏi ra ngoài thành từng tia sáng nhỏ coi cũng ấm cúng. Ngoài sân, sau nhà chú Hai Tạo, thằng Đồng đang lùa bầy vịt vô chuồng. Nó cầm cây đèn dầu đen thui vì khói, đứng lom khom rọi từng con vịt, lựa một con vịt tơ thiệt mập để chút nữa nấu cháo trộn gỏi bắp chuối đãi bà con. Ở dưới bếp, cô gái út của chú thím Hai đang nhóm một nồi nước sôi bự chảng để lát nhổ lông vịt.
Trên nhà trước, chú Hai Tạo ngồi trên bộ ván ngựa cũ kỹ, mặt ván bị mọt ăn lỗ chỗ. Chú cầm cây đờn kìm lau chùi kỹ lưỡng dưới ngọn đèn dầu. Ánh lửa vàng rọi vô cần đờn làm gỗ bóng lên coi sáng rỡ. Còn thím Hai thì đứng gần đó, vừa gài mấy cái nút áo dài còn dang dở để chuẩn bị cúng nước.
Nhà chú thím Hai là nhà lá ba gian, vách lá, mái cũng lợp lá dừa nước, nền đất mà sạch bóng. Chú Hai vốn tánh kỹ lưỡng nên dầu nhà đất mà coi ngăn nắp, sáng sủa hổng thua gì nhà gạch. Gian giữa để trang thờ Thầy của Đạo Cao Đài với cái bàn dài bằng gỗ xoan. Gian bên trái là bàn thờ ông bà già của chú Hai. Gian bên phải kê bộ ván ngựa, chỗ chú Hai đang ngồi chùi cây đờn. Phía hiên có vách gỗ ngăn, ba bộ cửa lá sách mở banh ra cho thoáng để tối nay bà con tụ tập đờn ca. Ngoài hiên còn có mắc cái võng giữa hai cây cột, đong đưa nhè nhẹ trong gió.
Thím Hai bước ra sân, cặm nhang lên bàn thiên rồi vô nhà cặm nhang trên trang Thầy với bàn thờ cửu huyền. Xong xuôi, thím rót một ly trà, một ly nước đặt lên trang Thầy, rồi chắp tay xá, quỳ xuống lâm râm khấn vái.
Gia đình chú thím theo Đạo từ đời ông già chú còn sống, hồi Đạo Cao Đài mới truyền xuống vùng Cần Giuộc. Vợ chồng chú thím sanh tới mười hai người con, dựng vợ gả chồng cho bảy đứa rồi. Thằng Đồng thứ chín cũng tới tuổi lấy vợ, còn bốn đứa con gái nhỏ thì còn ở nhà. Con cái đứa nào đứa nấy đều hiền lành, thường đi cầu nguyện ở nhà tu trung thừa vào những dịp rằm tháng giêng, tháng bảy, tháng mười. Bởi vậy trong xóm ai cũng quý mến gia đình chú thím.
Cúng nước xong, thím Hai từ tốn cởi chiếc áo dài trắng đã bạc màu, máng lên cây đinh đóng ở cột nhà, rồi bước lại gần bộ ván hỏi:
— Ông hổng qua mời anh Ba Vân với anh Chín Kẹp sao?
Chú Hai nghe nhắc mới sực nhớ:
— Ờ héng! Hồi chiều đâu có thấy hai ảnh.
— Ông riết lẫn dữ rồi nghen.
— Mấy nhà bên miễu hồi chiều còn sót nhà nào hông bà?
Thím Hai ngẫm nghĩ rồi đáp:
— Vợ chồng chú Ba Phu, Bảy Lúa, Chín Sỏi… đủ hết rồi. Còn bên đây có anh Ba với anh Chín nữa thôi.
— Ờ vậy để tôi qua mời hai ảnh.
Nói rồi chú Hai đặt cây đờn xuống ván, xách cây đèn măng-xông bước ra sân. Thím Hai cũng đi vòng qua cửa buồng mà xuống nhà sau.
Chú Hai ghé nhà chú Chín trước. Qua tới nơi thấy chú Chín đang quỳ cúng nước, còn thím Chín ngồi ăn trầu trên bộ ván. Chú Hai mời thím Chín đôi câu rồi đi tiếp qua nhà chú Ba Vân.
Nói là nhà cho sang, chớ thiệt ra chỉ là cái chòi lá xiêu vẹo bên mé sông. Chú Ba nghèo xơ xác, đời lang bạt, hổng ruộng hổng vườn, chỉ có chiếc xuồng cũ với cái chòi rách nát che mưa che nắng. Đôi ba lần, cậu Mười biểu chia ruộng, chia đất cho chú Ba làm, rồi sửa sang lại nhà cửa mà chú Ba từ chối, có lẽ chú đã quen cuộc sống như vậy. Ngày ngày chú lặn hụp bắt cua, bắt rắn, rảnh thì ôm chai rượu đi hết đầu xóm cuối làng nghêu ngao ca vọng cổ, có bữa đi qua ấp khác họ chửi chú đồ khùng điên, thậm chí còn đánh đập.
Chú Hai dòm vô chòi chẳng thấy chú Ba đâu, chỉ thấy thằng con trai thứ năm của chú với hai đứa em nó nằm co ro dưới đất ngủ ngon lành. Chú Ba còn đứa con gái thứ hai, nhưng cô ta mê tiền của, bỏ chú Ba đi theo một tên lính Ngụy, nghe đâu giờ làm vợ tên đó ở trên Sài Gòn. Chú Ba sống với ba đứa con trai, ngày ngày chúng cũng đi bắt cua, bắt rắn với chú.
Chú Hai đi ra gốc dừa chỗ chiếc xuồng cột sát mé sông, mới thấy chú Ba nằm ngửa trên xuồng. Người chú ốm tong teo, đầu hói trán cao, tóc muối tiêu bù xù, mặc cái quần rách te tua, hai tay gác sau đầu, chân gác chéo mà ca vọng cổ:
“Thao thức suốt thêm dài không vỗ giấc
Nến lung lay theo ngọn gió tạt thềm rêu
Sư phụ ơi lời thầy khuyên đệ tử chẳng vâng theo
Nên mới bị Bàng Quyên hãm hại.
Ta chép cuốn thiên thơ cho đến khi chữ cuối cùng vừa chấm dứt thì mạng của ta cũng chấm dấu….. sau…. cùng…”
Giọng chú vang giữa đêm nghe buồn hiu hắt mà mùi mẫn dữ thần.
Chú Hai đứng trên bờ vỗ tay cười:
— Xuống Hò ngọt dữ à nghen anh Ba!
Chú Ba giật mình ngồi bật dậy:
— Ủa, anh Hai đi đâu đó?
— Qua rước anh đi ca chớ đâu.
Nghe nói tới ca là mắt chú Ba sáng rỡ:
— Thiệt hông anh Hai?
— Thiệt chớ giỡn anh chi.
Chú Ba liền chụp chai rượu trong xuồng, lấy cái áo vắt vai, lật đật leo lên bờ đi theo chú Hai.
Bên nhà bà Năm, lúc đó cậu Mười cũng vừa cúng nước xong. Trong khi đó ở nhà sau, mợ Mười mở tủ gạc-măng-rê lấy đồ ăn, bới cơm vô mâm nhôm đem lên cho bà Năm. Bà già yếu nên nằm trên bộ tràng kỷ nghe cải lương từ cái ra-dô cũ của cô Sáu mua cho hồi trước.
Mợ Mười nhẹ giọng:
— Con mời má ăn cơm.
Mợ đỡ bà Năm ngồi dậy. Bà già run run hỏi:
— Thằng Mười đâu? Mấy đứa nhỏ ăn chưa?
— Dạ tụi nó ăn rồi má. Ổng cúng nước trên nhà trên.
Cậu Mười từ nhà trước bước xuống, vừa sửa lại rèm mùng vừa nói:
— Bà cho má ăn xong rồi dắt má vô buồng nghen. Tui qua nhà anh Hai trước. Nhớ dặn tụi nhỏ đóng cửa nẻo, lâu lâu ngó chừng bà nội.
Mợ Mười cười:
— Ông nói như tui con nít hổng bằng.
Cậu Mười cười theo rồi bước đi. Mợ còn nhắc vọng:
— Nhớ lấy cây đờn nghen ông!
— Ờ, biết rồi.
Bà Năm tai nghễnh ngãng nên hổng nghe rõ hai vợ chồng nói gì, chỉ lặng lẽ ăn cơm. Mợ Mười ngồi kế bên quạt muỗi cho bà. Chờ bà ăn xong, mợ rót ly nước nóng trong cái bình thủy nhôm cũ kỹ ra cái ly sọc dưa đã đục màu theo năm tháng.
— Má uống nước nghen, nóng đó, coi chừng phỏng.
Rồi mợ đem mâm cơm xuống bếp, lấy lồng bàn tre đậy lại. Xong xuôi mới dìu bà Năm vô buồng, thả mùng ém kỹ rồi cúi sát tai bà mà nói nhỏ:
— Má ở nhà với tụi nhỏ nghen. Con với ổng qua nhà anh chị Hai Tạo chút.
Bà Năm lo lắng:
— Thằng Hai bị gì hả?
— Đâu có gì đâu má. Bên bển tối nay đờn ca chơi hà.
— Có đám tiệc gì hả?
— Tập đờn ca để mai mốt cúng miễu đó mà.
Mợ Mười vốn thiệt tình, nghĩ sao nói vậy. Còn cậu Mười lúc nãy hổng nói với bà già là sợ bà lớn tuổi hay nghĩ ngợi. Nói với bà Năm xong, mợ Mười lòn người ra khỏi mùng, mợ ém mùng lại và bước ra cửa buồng, mợ lên nhà trước dặn đứa con gái thứ tư đang ngồi trên bộ ván ngựa với hai thằng nhỏ, một thằng chín tuổi, một thằng sáu tuổi, hai đứa nó là con thứ sáu và thứ bảy của cậu mợ:
— Tư! Con ở nhà coi em học với nhớ canh bà nội, má với chị Hai qua nhà bác Hai xíu.
Lúc đó trong xóm, ai nấy cũng dọn dẹp xong việc nhà để sửa soạn qua nhà chú Hai. Chú Bảy Lúa đứng ngoài cửa xách cây đèn măng-xông hối vợ om sòm:
— Xong chưa bà? Mò mò dưới bếp hoài vậy?
Tiếng thím Bảy vọng lên:
— Từ từ chớ! Để tui kiếm keo mắm còng đem qua cho chị Hai. Kiếm hoài hổng thấy.
Một hồi thím lật đật đi lên, tay xách mấy con khô cá lóc với keo mắm còng.
— Có rồi, đi ông ơi!
Chú Bảy lắc đầu cười:
— Thiệt tình!
Dọc đường, vợ chồng chú Bảy gặp ông Hai đang ôm cây đờn cò với chai rượu đế Gò Đen ngâm chuối hột. Ông đi tay không hổng đèn đuốc gì hết nên nhập vô đi chung cho có ánh sáng.
Nhà chú Hai đèn đuốc sáng trưng cả ba gian. Ngoài bếp lửa cháy hừng hực, khói bay nghi ngút. Thím Hai đang trải chiếu ngoài sân, thấy ông nhà và chú Ba Vân vô thì cười niềm nở:
— Dạ anh Ba.
Chú Ba ngó quanh rồi cười khà:
— Hôm nay nhà cửa sáng trưng như ăn tiệc nghen chị Hai!
— Dạ mời anh Ba vô nhà uống nước.
— Dạ được rồi chị, để đó tôi.
Nói xong chú Hai và chú Ba bước vô trong nhà, chú Ba ngồi ghế chỗ bàn dài. Chú Hai đi lại chỗ bàn thờ lấy chai rượu với mấy cái chung đem lại để sẵn ở bàn dài, chú Hai ngồi trên bộ ván lên dây cây đờn kìm. Nhỏ cháu ngoại gái của chú Hai nó không biết hôm nay nhà có việc gì, nó cũng lăn xăn chạy theo ông ngoại nó, bà ngoại nó la:
— Đừng có chạy té chết.
Chú Hai vuốt nhẹ đầu nó cười rồi biểu:
— Con xuống nói ông ngoại biểu cậu Chín với dì Út xong chưa dọn đồ lên.
— Dạ.
Nó dạ thiệt lớn rồi chạy xuống nhà sau, con bé độ chừng năm tuổi, con của đứa con gái thứ năm của chú thím Hai, mà con bé cũng là cháu nội của cô Năm (chị cậu Mười).
Vợ chồng Hai Tạo ngồi sui với cô Năm cũng bảy tám năm rồi nên phía bên cậu mợ Mười vừa là hàng xóm, cũng vừa là sui gia với nhau, cậu Mười là cậu chồng của con gái chú thím. Con bé mặt mũi sáng láng, coi rất dễ thương, nó giống chú Hai như tạc nên chú rất cưng nó, thím Hai hay ghẹo nó là cục vàng của ổng.
Chú Hai và chú Ba đang ngồi nói chuyện thì cậu Mười vai vác cây ghi-ta qua, chú Hai nói:
— Ngồi chơi chút đi chú, anh Hai với bà con chắc cũng sắp qua tới rồi.
Thấy chú Ba ngồi, cậu Mười chào nói:
— Anh Ba qua hồi nào?
— Ờ tôi qua cũng nãy giờ rồi.
Cậu Mười để cây ghi-ta xuống ván, cậu dòm cây đờn kìm rồi nói:
— Cha! Cây đờn lên nước bóng lưỡng, anh Hai giữ kỹ quá hen!
Nói xong cậu đi lại bộ bàn dài ngồi uống trà với chú Ba Vân. Chú Ba ngậm điếu thuốc, một tay lấy cái ly sọc dưa, tay kia lấy bình trà rót ra ly cho cậu Mười.
— Uống nước đi chú.
— Dạ được rồi để đó tôi anh Ba.
Trong nhà thì mấy ông nói chuyện, ngoài hiên thì thím Hai đang nằm võng tòn ten với đứa cháu ngoại.
Mọi người đang nói chuyện thì cô con gái của chú thím Hai ở nhà sau bưng mâm chén đũa và dĩa gỏi vịt, chén mắm gừng lên, thấy cậu Mười và chú Ba, cô thưa rồi bưng ra ngoài sân chỗ cái chiếu.
Mọi người lục tục kéo tới càng lúc càng đông: mợ Mười và cô con gái thứ hai, ông Hai, chú Chín Kẹp, Tư Tùng, Ba Phu, Bảy Lúa, Chín Sỏi, Bảy Tiệm với mấy cậu thanh niên, trai tráng và mấy cô gái trong xóm chạng tuổi thằng Đồng và con gái mợ Mười, mà hồi chiều họ cùng nhau kẻ cấy người cày, nói cười xôn xao. Đó là những người bạn của Đồng từ nhỏ ở cái xóm này. Tiếng nói nói cười cười bắt đầu xôn xao khắp sân nhà chú thím Hai, lấn át đi cả tiếng xạc xào của đám dừa nước, tiếng dế đêm, tiếng ểnh ương. Thằng Đồng nó bưng cả một nồi cháo bự chảng lên, thím Bảy Lúa góp mồi bằng một keo mắm còng và mấy con khô cá lóc, chú Chín Sỏi mang qua một ơ cá bóng dừa kho nồi đất, còn ông Hai với một chai rượu đế Gò Đen ngâm chuối hột.
Thằng bạn của Đồng nó chạy ra bẻ mấy trái xoài xanh trước nhà, nó nói:
— Xoài này mà chấm mắm còng là y bài.
Thấy mọi người tập trung đông đủ, chú Hai đứng dậy nói:
— Mọi người cũng đông đủ rồi, vậy tui mời hết thảy mọi người ngồi xuống lai rai, còn mấy người đờn bà chuẩn bị bài cho mình đi he.
Nói xong, chú Hai, cậu Mười bước lại bộ ván, mỗi ông lấy một cây đờn của mình, đó là người bạn tri kỷ đã gắn bó với hai chú từ rất lâu. Ra tới ngoài sân, chú Hai ngồi xuống chiếu rót một ly rượu rồi chú rưới ra ngoài đất.
Chiếu đã trải sẵn. Đờn kìm, đờn cò, ghi-ta phím lõm được đặt ngay ngắn. Chú Hai đứng dậy nâng ly rượu đầu tiên, nói:
— Tối nay bà con mình tụ họp đông đủ, tui với anh Hai, chú Mười mở màn tám câu Nam Xuân nghen!
Tiếng vỗ tay rần rần nổi lên.
Rồi tiếng song lang cắc cắc vang lên. Tiếng đờn kìm của chú Hai, tiếng đờn cò của ông Hai, tiếng ghi-ta của cậu Mười hòa quyện với nhau nghe ngọt như nước dừa xiêm. Ba người tuổi tác cách biệt mà tiếng đờn ăn ý như tri kỷ lâu năm.
Điệu Nam Xuân cất lên khoan thai, vui tươi, nghe nhẹ nhõm như gió đồng nội thổi qua hàng lúa. Tiếng đờn mộc mạc mà chan chứa cái tình của người miền Tây chân chất.
Đờn dứt, ông Hai tựa cây đờn cò vô vai, móc hộp thiếc lấy điếu thuốc rê châm lửa hút rồi cười hỏi:
— Đứa nào ca thì đăng ký đi bây!
Một anh thanh niên cười hề hề:
— Chưa sỉn ca chưa được ông Hai ơi!
Cả đám cười rần.
Mợ Mười liền lên tiếng:
— Chủ nhà ca trước đi chị Hai!
Mọi người hưởng ứng om sòm. Thím Hai mắc cỡ đỏ mặt:
— Già rồi, ca hổng hay như hồi trẻ nữa đâu nghen.
Chú Bảy Tiệm chọc:
— Chị Hai hồi xưa tài tử miệt vườn nổi tiếng mà còn khiêm dữ à!
Đám thanh niên nghe vậy càng hú hét chọc ghẹo làm thím Hai cười ngượng nghịu. Rồi thím ngồi ngay ngắn, cất giọng nói lối bài “Thoại Khanh Châu Tuấn”.
Tiếng đờn rao lên ai oán. Giọng ca của thím Hai ngọt lịm, chắc nhịp, mùi mẫn đến nỗi mấy bà đàn bà ngồi nghe rưng rưng nước mắt. Từng câu ca như rút ruột gan người ta ra mà kể.
“Đờn kêu tích tịch tình tang…
Thiếp nay cõng mẹ tìm chàng chàng ơi…
Dao vàng cắt thịt máu tuông
Thành tâm nuôi mẹ thánh thần chứng tri...”
Tiếng ca vừa dứt, cả sân lặng ngắt. Chỉ còn tiếng thím Bảy với thím Chín sụt sùi lau nước mắt.
Chú Chín Sỏi cười xòa:
— Trời đất, người ta ca chơi mà hai bà khóc dữ thần!
Mợ Mười xuýt xoa:
— Chị Hai ca hay dữ à nghen. Nghe như trong dĩa ca vậy.
Anh thanh niên hồi nãy leo hái xoài bèn cười hề hề rồi nói lớn:
— Chú thím Hai đúng là cặp đờn ca tài tử số một xóm mình!
Chú Hai nghe vậy khoái chí, liền day qua biểu:
— Mầy làm cái bản Tống Tửu Đơn Hùng Tín đi Tèo.
Anh Tèo chắp tay, cười đáp:
— Dạ thưa đơn nhị ca, để em làm liền. Mà lớp nhứt thôi nghen chú.
— Ừa, Xuân Tình lớp nhứt. Vô đi chú Mười, anh Hai!
Nói rồi anh thanh niên lẹ làng đứng bật dậy. Anh vừa ca vừa bộ tịch làm tuồng, tay bưng ly rượu đưa qua cho thằng Đồng, thằng Đồng khoái chí bưng lên ực một cái. Hai đứa diễn cái cảnh Trình Giảo Kim dâng rượu Đơn Hùng Tín thiệt hết sức hay. Bởi vậy nên không khí trong nhà bỗng rộn ràng trở lại. Anh làm điệu bộ y như kép hát cải lương thiệt thụ, khiến ai nấy ngồi coi đều háo hức, vừa nghe vừa ngó chăm chăm như đang đi coi gánh hát dưới chợ huyện. Đờn vừa dứt, câu ca vừa thôi, cả đám đều vỗ tay rần rần, cười nói vui vẻ.
Rượu uống lai rai đã bắt đầu thấm, nên mấy người đàn ông ai nấy đều hứng chí. Chú Bảy Lúa bèn lên tiếng:
— Anh Hai đờn cho tui bản Lưu Bình Dương Lễ nghen anh.
Thằng Đồng lanh trí xen vô:
— Con ca với chú Bảy cho.
— Ừ, chơi luôn mầy. Mầy làm Lưu Bình, tao làm Dương Lễ.
— Dạ chú.
Rồi chú Bảy day qua ông Hai:
— Rao đờn đi anh Hai.
Rượu đã ngà ngà say nên mấy tay đờn ông, từ người đờn tới người ca, ai nấy đều nổi hứng. Kẻ tung người hứng, tiếng đờn hòa lẫn tiếng ca, thêm điệu bộ diễn xuất của chú Bảy với thằng Đồng nữa, làm bà con ngồi coi cứ tưởng mình đang coi tuồng cải lương Lưu Bình Dương Lễ thiệt tại nhà chú Hai.
Thằng Đồng thiệt đúng là con nhà nòi. Giọng nó chắc và ngọt, không thua mấy nghệ sĩ trẻ đương thời chút nào. Nó mà theo gánh hát thì với dáng dấp thư sinh cùng giọng ca đặc sắc ấy, sớm muộn gì cũng nổi danh kép cải lương, rồi được mời vô mấy đoàn lớn như Thanh Minh Thanh Nga hay Kim Chưởng cũng nên.
Ca xong bản Lưu Bình Dương Lễ thì tới lượt chú Ba Vân vô bản vọng cổ nhịp mười sáu, Tôn Tẩn giả điên. Chú Ba tuy người lượm thượm, dáng vẻ khắc khổ, song chú ca nghe mùi lắm. Chú ca tự nhiên, không gò bó, chẳng có rượt theo nhịp mà vẫn vô nhịp ngon lành. Nghe chú ca cứ như nghe một người đang thong thả kể chuyện đời mình vậy.
Ông Hai nghe xong khoái quá, khen nức nở:
— Chú Ba mầy ca khó ai bì kịp. Cái đó mới thiệt là tài tử đa!
Rồi ông day qua ngó mọi người:
— Còn ai ca nữa hông?
Thím Hai liền kêu thím Bảy Lúa:
— Thím Bảy ca bản Tình Mẫu Tử đi. Bữa qua nhà nghe thím nằm võng ca mà mùi dữ lắm.
Thím Bảy cười nhẹ rồi nói:
— Vậy tui nhờ anh Hai, chú Mười với ông Hai đờn phụ cho tui sáu câu Tình Mẫu Tử nghen.
Ba tay đờn liền rao vô lớp để thím Bảy nói lối. Giọng ca của thím vừa cất lên, ai nấy đều im bặt. Giọng thím có cái gì nghèn nghẹn trong từng câu chữ, nghe buồn mà thấm dữ lắm. Giọng ấy đặc biệt hợp với mấy bài ai oán, mà nhứt là bản Tình Mẫu Tử. Từng câu từng chữ thím ca đều da diết tận ruột gan, nghe như chính thím là người mẹ bất hạnh trong bài ca đó vậy.
Thím Bảy vừa ca dứt thì anh con trai của chú thím Chín chép miệng than:
— Trời đất ơi, buồn thúi ruột luôn thím Bảy ơi!
Thím Chín liền đỡ lời:
— Bộ mầy cũng biết buồn nữa hả mậy?
Mợ Mười ngó anh ta rồi cười nói:
— Mầy lo kiếm cho má mầy đứa con dâu đi, để bả khỏi rầy mầy hoài.
Cả đám nghe vậy cười rần. Có người chọc thêm:
— Con gái nào mà thèm nó. Tối ngày long nhong ngoài đường, con gái thấy mặt là chạy tám hướng.
Anh ta mắc cỡ, liền xua tay:
— Đang ca mà tự nhiên bà Mười với má nhắc chuyện vợ con hông hà. Ca tiếp đi!
Rồi anh day qua ông Hai:
— Ông Hai ca Tình Anh Bán Chiếu đi ông. Ông Hai Trà Ôn!
Nói tới đó thì cười ha hả.
Thằng Đồng cũng hùa theo:
— Đúng rồi đó bác Hai. Bác ca Tình Anh Bán Chiếu là hết chỗ chê luôn.
Ông Hai cười hiền:
— Vậy mầy đờn phụ tao nghen, để tao tập trung tao ca.
— Dạ, bác Hai đưa con.
Thằng Đồng không những ca hay mà còn biết đờn nữa. Từ hồi còn nhỏ xíu, nó đã được chú Hai dạy đờn ca, nên quen tay với đủ thứ nhạc khí như đờn tranh, đờn kìm, đờn cò.
Cả nhà bấy giờ đều im phăng phắc ngồi nghe ông Hai ca bản vọng cổ Tình Anh Bán Chiếu. Giọng ca của ông nội lực dữ lắm. Dầu tuổi đã ngoài thất thập, râu tóc bạc phơ, mình mặc bộ bà ba đen, vai vắt khăn rằn, coi đúng dáng một ông già Nam Bộ thiệt thà, chất phác. Giọng ca của ông nghe cũng một chín một mười với Út Trà Ôn, bởi vậy nên tụi nhỏ mới hay chọc ông là “ông Hai Trà Ôn”.
Sau bài vọng cổ của ông Hai, lần lượt ai nấy cũng đứng lên ca mấy bản ruột của mình. Người ca hay, người ca chưa tới; có bài nghe vui, cũng có bài nghe buồn. Song, hết thảy đều chan chứa cái tình làng nghĩa xóm, cái cảnh sống thanh bình, hòa thuận của bà con miền quê Nam Bộ thuở ấy.
Đờn ca tới khuya thì trời bắt đầu nổi gió. Hàng dừa nước ngoài sông lắc dữ dội. Mợ Mười ngó trời nói:
— Chắc mưa lớn quá.
Ông Hai gật gù:
— Dọn đồ vô lẹ đi, hông thôi trở tay hổng kịp.
Mọi người vừa lật đật gom đồ thì bầu trời lóe sáng một cái. Liền theo đó, cơn mưa đầu mùa ào ào đổ xuống phủ trắng cả xóm.
Không ai về kịp nên đành ngồi nép hết vô nhà chú Hai. Bên ngoài mưa rơi rả rích trên mái lá, gió thổi đám dừa nước xào xạc ngoài sông. Trong nhà, mọi người im lặng ngồi nghe tiếng đờn kìm của chú Hai ngân lên bản Nam Ai.
Tiếng đờn buồn thăm thẳm.
Từng chữ đờn chú nhấn, nhứt là chữ Xang, nghe mùi mẫn tới nao lòng, khiến ai nấy ngồi đó đều thấy trong dạ mình bùi ngùi theo tiếng đờn giữa đêm mưa miền Tây.
Đăng nhập để bình luận và ủng hộ tác giả
Đăng nhập ngay