Sáng sớm mơi, trời đất mát mẻ dễ chịu. Từ cơn mưa đầu mùa của buổi đờn ca tài tử hôm ấy, liên tiếp gần nửa tháng nay ngày nào cũng có mưa, làm cho cây cối hai bên đường xanh um tươi tốt. Trên cành lá còn đọng sương đêm, từng giọt từng giọt rơi nhè nhẹ xuống đất, hết giọt này tới giọt khác nghe thiệt êm tai. Sau mấy tháng trời nắng hạn gay gắt, nhờ mấy cơn mưa ấy mà cây cối đâm chồi nảy lộc, coi bộ có sức sống hẳn lên. Mấy cây dừa xiêm cao vút đứng hai bên đường, rồi mấy hàng dừa nước dưới mé sông cũng nhè nhẹ đong đưa tàu lá theo gió sớm, như chào đón một buổi mơi trong lành yên ổn.
Cái hàng rào mai trắng trước nhà chú Ba Phu còn đọng sương sớm, ngó đẹp hết sức. Trước sân chú lại chưng thêm mấy chậu bông sứ với mấy chậu bon-sai coi bắt mắt. Nếu nói nhà cô Sáu là đẹp nhứt trong xóm thì nhà chú Ba cũng đáng kể hạng nhì. Nhà lợp ngói âm dương, ba gian hai chái, vách ván mũi kho, hai bên kê hai bộ ngựa bóng láng, hông nhà xếp hai hàng lu lớn ngay ngắn. Hai cây cột cái tròn được đóng cặp liễng chữ Nho đỏ chói.
Ông thân của chú Ba hồi trước vốn là nhà Nho, bởi vậy chú Ba là con trưởng nên cũng nối được cái nếp chữ nghĩa của cha mình. Chú học rộng hiểu nhiều, ăn ở đàng hoàng, giữ đạo nghĩa phải phép, nên trong họ Đạo hễ có việc đọc sớ, đọc văn tế, viết câu đối hay liễng đỏ gì thì người ta cũng cậy nhờ tới chú.
Trở lại cái cảnh bình minh trong xóm, mấy con gà cồ đứng vỗ cánh gáy inh ỏi khắp nơi. Bầy gà sẩn bẩn thấy con rắn mối từ trong ụ rơm bò ra thì rượt theo mổ lia lịa, mà vừa nghe tiếng “cúc cúc” của mợ Mười gọi lúa là chúng bỏ quên con rắn mối liền, bu lại tranh nhau từng hột lúa, con nhảy con bay lăng xăng hết thảy. Bên nhà ngói, giọng chú Ba Phu ngâm Lục Vân Tiên nghe thăng trầm, mộc mạc.
Mấy con cu đất của chú Chín Kẹp nuôi trong lồng treo trước nhà gáy gù om sòm, nghe như cãi lộn với đám gà cồ bên nhà mợ Mười. Bầy vịt của thím Hai được thằng Đồng mở cửa lùa xuống ao, cả bầy chen nhau chạy, con té nhào xuống nước, con thì giang cánh vỗ phành phạch rồi đáp cái đùng xuống ao.
Mấy con chó nằm lăn lóc dưới mấy vũng sình do trận mưa hồi hôm còn đọng trước sân, mình mẩy dính đầy bùn đất. Thím Tư Tùng cầm cây chổi dừa vừa xua vừa rầy:
— Tổ bà tụi bây, quậy chèn nhẹp chèn nhưỡi cái sân!
Bị chủ rầy, mấy con chó chạy tuốt ra mé sông, chỗ gốc dừa có mấy ổ tèn hen. Ổ nào cũng vun lên một cục bùn nhỏ. Có một con tèn hen bò ra ngoài, mấy con chó thấy vậy liền nhào lại sủa om sòm, vậy mà con tèn hen cứ chậm rãi bò vô hang như không biết sợ.
Trên bờ đê quen thuộc, mọi ngày người qua kẻ lại tấp nập. Người từ ba làng đi ra lộ đá đỏ, ai muốn đi chợ Núi thì rẽ trái, ai muốn lên cầu Ông Chuồng, cầu Rạch Ván rồi qua phà Tân Thanh đi chợ Cần Giuộc thì rẽ phải. Kẻ từ cầu Kinh, xẻo Lá đi vô ba làng thăm ruộng mới cấy, coi đồng coi áng.
Mà bữa nay đường đất chèn nhẹp trơn trợt, xe ngựa xe bò không vô được, người đi bộ cũng chỉ lác đác vài người, quần xăn tới đầu gối mà đi.
Chỉ có ông Hai là y như thường lệ. Tờ mờ sáng, bất luận nắng cháy hay mưa dầm, nước ngập, ngày nào ông cũng chèo xuồng ra chợ Núi. Ông quần ngoài chợ một hồi để nghe ngóng chuyện đời rồi mới chèo trở vô ba làng. Từ lộ đá đỏ vô tới ba làng phải lách qua mấy con rạch nhỏ um tùm dừa nước, bần, mắm. Tới cầu Kinh có cái bót lính, ai đi bộ hay đi xuồng ngang cũng phải ngừng cho lính xét hỏi.
Ngày nào ông Hai cũng chèo ngang đó. Hồi đầu tụi lính còn bắt lên xét xuồng, mà xét hoài chỉ thấy toàn củi dừa với củi đước nên riết rồi chúng cũng làm biếng. Thỉnh thoảng ông Hai cho tụi nó quày chuối sứ, quày dừa xiêm hay con cá, riết thành quen mặt. Bởi vậy hễ thấy ông Hai là tụi nó chỉ xin xỏ chút đỉnh rồi cho qua dễ dàng.
Ông Hai từ trong nhà bước ra, đầu vẫn bới củ tỏi, mặc bộ bà ba đen cũ, khăn rằn vắt vai, miệng ngậm điếu thuốc rê. Tay phải xách bình trà, tay trái chụm ba cái ly rồi đi xuống xuồng. Ông đẩy xuồng khỏi bến mà chèo đi, vừa chèo vừa ca vọng cổ:
“Hò..... ơ, Chiếu Cà Mau nhuộm màu tươi thắm, công tui cực lắm mưa nắng dãi dầu, chiều này tui chẳng bán đâu, tìm cô không gặp, hò....ơ....”
Tiếng ca của ông vang dài giữa buổi sớm nghe buồn mà ngọt.
Xuồng chèo ngang nhà chú thím Bảy Tiệm, thấy chú Bảy đang ngồi trên nóc nhà còn thím Bảy đứng dưới đất xé lá, ông Hai mới tấp xuồng vô mé sông rồi hỏi:
— Chú thím sửa nhà hả?
Chú Bảy ngó xuống đáp:
— Hồi khuya dông quá, bị tốc nóc cái nhà sau.
Thím Bảy cười chen vô:
— Lá nhà sau mục hết rồi, tụi tui tính dỡ ra lợp lại, ai dè hồi tối trời mưa lớn quá, ổng dỡ giùm luôn.
Rồi thím vừa xấp lá vừa nói tiếp:
— Cũng may không phải chỗ bồ lúa, hông thôi chết bà rồi. Anh Hai ra chợ hả?
— Ờ. Lát về tui vô miễu coi sao, rồi kêu mấy đứa nhỏ vô quét dọn.
Chú Bảy hỏi thêm:
— Năm nay ai đứng cúng vậy anh Hai?
— Chú Út Tình cúng.
— Để vợ chồng tui làm xong rồi vô phụ.
Ông Hai cười:
— Lo việc nhà trước đi, quởn rồi hẵng vô, nay mai ổng mưa nữa. Việc trong miễu có cả đống người lo.
Nói rồi ông chống tay xô cây dừa cho xuồng trôi ra sông mà chèo tiếp, miệng ngâm thơ Lục Vân Tiên nghe ngân nga giữa dòng nước sớm.
Xuồng chèo ngang qua nhà chú thím Hai, rồi tới nhà cậu Mười, nhà cô Sáu. Tới cây cầu khỉ trước nhà cô Sáu, ông Hai thấy cậu Mười đang lật đật đi trên cầu, bèn ngước mặt lên hỏi lớn:
— Đi đâu đó chú Mười?
Cậu Mười đứng lại, day xuống mé sông mà đáp:
— Tui ra thăm ruộng. Hồi hôm mưa lớn dữ quá, chắc nước ngập mênh mông hết trơn rồi.
Ông Hai nghe vậy thì cười khà khà, rồi nói:
— Tui mới qua hồi tờ mờ sáng. Nước ngập tới đọt thiệt đó, mà coi vậy chớ hổng đến đỗi nào đâu.
Cậu Mười nghe nói vậy mới cười:
— Ủa, vậy hả? Anh Hai ra sớm dữ đa.
Hai người đứng nói qua nói lại có mấy câu rồi cậu Mười cũng bước qua khỏi cầu, lững thững đi vô phía ruộng đồng còn đẫm nước. Còn ông Hai thì tiếp tục chèo xuồng ra chợ Núi.
Ngó từ xa xa, chỉ thấy bóng dáng một ông già mình gầy ốm, cái nón lá vác sau cổ, đầu quấn khăn rằn, chòm râu bạc trắng phơ phất trước gió sớm, đang chậm rãi chèo chiếc xuồng nhỏ khuất dần sau đám lát mọc hai bên mé sông.
Mặt trời bắt đầu rọi nắng. Những tia nắng vàng ấm áp phủ xuống xóm nhỏ, xua tan màn sương lạnh của buổi rạng đông. Tia nắng rọi qua mấy tán dừa rọi bóng xuống bờ đê, khiến cảnh vật coi vừa thanh bình vừa hiền hậu biết bao nhiêu.
Cậu Mười đứng trên bờ đê cạnh gốc dừa với đám bình bát, hai tay chắp sau lưng mà ngó ra cánh đồng. Mấy đám mạ cấy lâu ngày xanh mơn mởn, rễ đã bám đất, chồi non bắt đầu vươn lên đầy sức sống. Còn mấy đám mới cấy thì thưa thớt, lá còn vàng vì bị nắng đốt mấy bữa rày.
Cậu đứng dòm một hồi lâu rồi lững thững đi vô ba làng.
Ông Hai chèo xuồng ra tới chợ Núi, bèn tấp vô mé quán của thím Hai Béo mà uống trà, nói chuyện cùng mấy ông bạn già ngồi ngoài chợ. Chợ bữa ấy coi cũng đông đúc, kẻ mua người bán lao xao, mà lính tráng đi gác cũng đông. Ông đi dạo một hồi rồi mua hai con cá lóc với mớ cá bống kèo đem xuống xuồng để đó. Ông trở lại quán trả tiền trà nước cho thím Hai Béo.
Thím Hai Béo ngồi sau cái bàn gỗ cũ, lấy tay vuốt mấy tờ giấy bạc cho ngay ngắn, rồi xếp gọn ghẽ mà thối tiền lại cho ông Hai. Ông Hai thấy vậy mới cười mà nói rằng:
— Cha, thím Hai kỹ lưỡng dữ hôn! Xếp tiền ngay bon!
Thím Hai Béo cũng cười, đáp:
— Chớ sao anh Hai. Tiền bạc là khúc ruột mà, ai lại không giữ cho kỹ.
Ông Hai nghe nói thì cười khà khà mấy tiếng rồi bước ra bến xuống xuồng. Ông lấy tay móc trong túi áo ra sấp tiền hồi nãy thím Hai mới thối, ông đưa mắt ngó quanh quất bốn phía như sợ có ai dòm ngó. Thình lình ông lẹ tay rút một miếng giấy nhỏ đã se tròn giấu trong sấp bạc, rồi nhét vô bụng một con cá kèo. Làm xong, ông tỉnh bơ cất chèo, chèo xuồng thẳng về phía ngã ba làng.
Xuồng ông Hai đi ngang cái bót lính. Mấy thằng lính đứng trên bờ trông thấy, bèn réo lớn:
— Ủa! Đi chợ về đó hả ông Hai?
Ông Hai nghe kêu, phải lách xuồng vô mé bờ, rồi nói với giọng hơi càm ràm:
— Hồi sớm mơi mấy cậu kêu qua vô xét rồi, bây giờ còn xét nữa sao?
Một thằng lính cười hề hề mà đáp:
— Tui kêu ông vô đâu phải để xét. Ông Hai già cả rồi, có cho vàng chắc cũng đâu dám làm bậy.
Ông Hai bèn hỏi:
— Vậy chớ mấy cậu biểu tui ghé vô mần chi?
Thằng lính ngó xuống mớ cá trên xuồng, rồi nói trổng:
— Tính xin ông vài con cá, chiều tụi tui làm lai rai chơi.
Ông Hai giả bộ xuề xòa:
— Tưởng chuyện gì. Có mấy con cá nhỏ xíu để lát kho ăn cơm. Mấy cậu muốn lấy thì lấy đại đi, rồi trả tui cái thúng.
Nói rồi ông đưa cái thúng cá bống kèo cho thằng lính. Nó coi qua rồi quạo quọ:
— Trời đất! Nhậu mà cho cá bống kèo sao được. Hai con cá lóc kia kìa!
Ông Hai nghe vậy thì cười gượng gạo, song ngoài mặt vẫn làm vui. Ông đành trao hai con cá lóc cho tụi lính mà nói:
— Mấy cậu khéo lựa dữ há!
Đưa cá xong, ông Hai chống chèo đi thẳng ra phía ngã ba sông. Nhưng ông không ghé vô cái bến cạnh miễu Bà như mọi bữa, mà lại chèo thẳng ra sông cái. Đi một đỗi tới con rạch nhỏ, hai bên dừa nước mọc um tùm, tàu lá ngả chụm đầu vô nhau thành một cái vòm như cổng thiên nhiên giữa đường sông. Ông Hai bèn lách xuồng vô đó. Chiếc xuồng nhỏ len giữa bóng dừa rậm rạp, rồi khuất dần trong con rạch tối um.
Cái miễu bà nằm ngay ngã ba sông, dưới gốc hai cây mắm cổ thụ, thân mắm gồ ghề, gốc mắm phải hai người lớn vòng tay mới ôm hết, trên thân cây loang các lỗ, các hang mà người ta đồn là hang hổ mang, rắn rít hay ổ cú mèo, do khi tối về, những người dân ở gần đó nghe tiếng cú mèo từ bên phía hai cây mắm cổ thụ này. Tán hai cây mắm ở đây có thể che mát rộng một cái nhà ba gian. Cái miễu bị đồn có ma và bị thêu dệt ra những câu chuyện ly kỳ. Có lần mợ Mười chèo xuồng ngang đó giữa đêm, mợ thấy mình đang ở tại miễu, tại ngã ba sông, mợ rẽ qua Vĩnh Tây nhưng chèo hoài không thấy cái xóm của mình, mà mợ lại vòng về cái miễu bà trước mặt, mợ tiếp tục chèo, chèo được một khúc thì hình ảnh miễu bà lại hiện ra trước mặt, mợ không hiểu tại làm sao, cảm thấy lo sợ, rồi mợ lầm thầm khấn vái bà cho mợ chèo về tới nhà.
Lại một lần khác, mợ Mười, thím Ba Phu và một người hàng xóm nữa đi soi cá, tới ngã ba sông thì họ tẻ ra. Sáng sớm hôm sau con gái của người hàng xóm đó qua nhà hỏi cậu Mười:
— Má con với bác Mười gái đi soi cá hôm giờ chưa về nữa hả bác Mười?
— Bác gái mầy dìa hôm giờ rồi mà, má mầy chưa dìa hả?
— Dạ chưa.
Mợ Mười ở nhà sau rém màn đi lên, mợ vừa bới tóc vừa nói:
— Ủa má con chưa về hả? Hồi hôm tản lạc, bác tưởng mạnh ai nấy về rồi chứ.
Ba người đang nói chuyện thì có một người đàn ông trạc tuổi vợ chồng Hai Tạo đang chèo xuồng tấp vô bến nhà cậu Mười, trên xuồng có một tay lưới và mấy cái lộp, ông này là Út Tình, coi ông gấp gáp lắm:
— Má bây chết nằm chỗ đám lá miễu bà, bây xuống xuồng lẹ tao rước qua bển.
Cô gái nghe xong biến sắc, cậu mợ Mười cũng thất thần, cô gái chạy ra mé sông rồi xuống xuồng đi theo chú Út, còn cậu mợ Mười cũng lật đật xách xuồng theo sau. Bên miễu, bà con bu đen nghẹt, xuồng vừa tới bến miễu bà, cô bước xuống thất thần nhìn cái xác lôi thôi sình đất, miệng nhét toàn bùn, mắt mở trân tráo coi rất ghê. Từ đó về sau, người ta đồn gần miễu bà có ma, thím đó bị ma giấu và cho ăn đất bùn.
Lằng quằng cho tới quá ngọ, ông Hai mới chống xuồng vô tới miễu. Ông ghé mũi xuồng vô mé sông, lựa nhánh mắm già de ra ngoài nước mà cột dây cho chắc rồi mới lật đật bước lên bờ.
Cái miễu của xóm nghèo coi thiệt chẳng có chi sang trọng. Mái ngói âm dương đã cũ, rêu phong bám xanh um, bốn phía chỉ chống bằng mấy cây cột vuông chớ không ngăn vách, nên gió sông thổi vô mát rượi. Tuy đơn sơ vậy mà bên trong cũng rộng rãi, sáng sủa. Dưới nền có kê một bộ ván ngựa ba tấm, một cái bàn tròn với vài cái ghế đẩu. Ngoài nhánh mắm gần mé sông có treo một cái trống chầu bằng dây dù.
Dưới gốc mắm lại có một gian nhỏ lợp ngói, hai bên cùng phía sau xây vách kín đáo. Trong ấy đặt ba cái bàn thờ; chính giữa là bàn thờ năm mẹ Ngũ Hành, còn hai bàn nghi hai bên thì không rõ thờ vị nào. Trên bàn bày đủ thứ lư hương, chân đèn, lục bình, chỗ chưng trái cây cùng nhiều món lễ khác, coi cũng nghiêm trang.
Ngoài mé sông, gần đám dừa nước, có dựng một cái bia gạch hình như cái tháp nhỏ. Chính giữa khắc hàng chữ “Chiến Sĩ Trận Vong” chạy từ trên xuống dưới, hai bên chạm hình long mã với kỳ lân coi thiệt công phu. Sau miễu là cái nhà bếp lợp lá để mấy ông bà trong ban hỏa thực nấu nướng đãi khách tới cúng viếng trong mấy ngày lễ.
Ông Hai bước vô thì thấy một người đàn ông trạc sáu chục tuổi, mình mặc áo bà ba nâu, đầu quấn khăn rằn, nước da rám nắng, mặt mày đầy những nếp nhăn của kẻ từng trải phong trần. Hàm râu cằm lơ thơ màu muối tiêu. Người ấy đang đứng đốt nhang trước bàn thờ Ngũ Hành. Đó là chú Út Tình, người đứng ra lo việc cúng miễu năm nay.
Thấy chú Út đang chắp tay lạy bà nên ông Hai không tiện gọi. Ông lặng lẽ kéo ghế đẩu ngồi bên bàn tròn mà chờ. Một hồi lâu, chú Út cắm nhang xong mới day ra. Thấy ông Hai, chú liền tháo khăn rằn khỏi đầu, vắt ngang vai rồi ngạc nhiên hỏi:
— Ủa, anh Hai tới hồi nào vậy?
Ông Hai cười đáp:
— Tui tới nãy giờ. Thấy chú đang lạy bà nên tui hổng dám kêu.
Chú Út bước lại bàn, rót trà ra ly rồi nói:
— Anh Hai uống nước đi. Lóng rày lính tráng đi lùng sục dữ quá, làm gọn thì hỏng được mà tụ tập đông đúc thì sợ tụi nó nghi rồi bắt bớ.
Nói rồi chú ngồi xuống, hỏi tiếp:
— Anh Hai ngày nào cũng ra chợ, có nghe động tịnh gì hông? Tui nghe nói tụi nó dựng rào tre với kẽm gai, tính dồn dân vô ở hết, có phải hông anh?
Ông Hai gật gù:
— Ờ, chính sách của ông Diệm đó. Tụi lính ngoài chợ kêu là Ấp Chiến Lược.
Chú Út nghe vậy thì thở hắt ra, tiếp lời:
— Năm kia năm ngoái đã có luật mười năm chín để bắt cộng sản. Mà tui có thấy cộng sản đâu, chỉ thấy tụi nó bắt dân đi lính rồi dồn vô khu trù mật. Nhà chị Tư tui hồi năm rồi bị ông quận trưởng treo bảng đen, vu cho chồng với con chỉ là tỉnh ủy Việt Cộng. Gia tài có hai con bò cũng bị tịch thu ráo.
Nói tới đó, chú tặc lưỡi lắc đầu:
— Giờ lại bày thêm vụ Ấp Chiến Lược nữa.
Ông Hai nghe thì cười lạt:
— Thì phải làm cho cả làng, cả ấp này thành cộng sản hết trọi, mấy cha quận trưởng với tỉnh trưởng mới cất nhà lầu, đi xe hơi, mới cưới năm bảy bà vợ được chớ.
Nghe câu nói chua chát ấy, chú Út chỉ cúi đầu thở dài. Chú móc bịch thuốc rê trong túi ra, vấn một điếu đưa cho ông Hai:
— Anh hút thử đi. Thuốc Gò đó.
Ông Hai ngậm điếu thuốc lên môi. Chú Út bật hột quẹt đá, chụm lửa mồi cho ông. Rồi chú cũng tự vấn thêm một điếu khác mà hút.
Một người ngồi chéo ngoảy trên ghế đẩu, một người chống một chân lên ghế, chân kia để dưới đất. Trên bàn tròn có cái dĩa úp mấy cái ly trà cùng bình trà để trong cái vỏ dừa khô. Hai ông già vừa hút thuốc vừa nói chuyện trời đất cho tới đứng bóng.
Chừng ấy bỗng nghe ngoài sông có tiếng xuồng khua nước lục đục. Hai ông day mặt ngó ra thì thấy hai chiếc xuồng vừa cập bến cạnh xuồng ông Hai. Trên xuồng có hai thanh niên độ ba chục tuổi, mình trần da ngăm đen vì nắng gió, với hai người đàn bà ngoài năm mươi mặc bà ba, đầu đội nón lá. Xuồng chở đầy đồ hàng bông, trái cây, gạo nếp, củi than cùng gà vịt mỗi thứ đôi cặp. Họ đều là dân buôn bán ngoài chợ, đem đồ vô lo cúng miễu.
Thấy họ lục tục sửa soạn khiêng đồ, chú Út đứng trong miễu nói vọng ra:
— Đi giữa trưa nắng vậy! Sao hổng đợi thủng thẳng chiều mát hẳn đi?
Một người đàn bà cười đáp:
— Dạ tranh thủ bán buổi sáng được chút đỉnh, rồi tụi tui kêu mấy đứa nhỏ khiêng đồ vô luôn.
Bà vừa nói vừa ngó qua ông Hai:
— Anh Hai tới hồi nào vậy?
Ông Hai cười hề hề:
— Tui vô từ sáng sớm, ngồi nói dóc với chú Út tới giờ đó đa.
Ông ngó xuống xuồng rồi hỏi:
— Chở đồ dữ thần vậy thím?
Người đàn bà đáp tỉnh queo:
— Kệ đi anh. Một năm mới cúng bà có một lần hà.
Hai người đàn bà cởi nón lá để lên bộ ván rồi lật đật đi vô miễu. Còn hai thanh niên khi nãy lo sắp xếp đồ dưới xuồng, bây giờ mới bắt đầu gánh lên. Mỗi người xách một cần xé hàng bông nặng trĩu. Đi chưa tới cửa miễu thì họ đứng lại hỏi:
— Cái này để đâu ông Út?
Chú Út đưa tay chỉ xuống phía nhà bếp:
— Hai cậu khiêng xuống dưới đó giùm tui.
Hai thanh niên ngó theo tay chỉ rồi tiếp tục gánh đồ đi xuống bếp. Hai người đàn bà cũng trở ra xuồng, xách thêm gà vịt với mấy món lặt vặt đem vô, làm cho cái miễu hồi trưa vốn vắng vẻ bỗng rộn ràng tiếng nói cười của bà con trong xóm.
Xế chiều, bà con trong xóm kéo tới ngày một đông. Người ở xa chèo xuồng, người gần thì đi bộ. Tiếng nói cười rộn ràng cả khúc sông:
— Ruộng anh Mười mới sạ hả?
— Chị Tám cấy hết chưa?
— Anh Ba bữa giờ khỏe chưa?
Thỉnh thoảng lại nghe tiếng la của một vài người lớn tuổi:
— Mấy đứa nhỏ không có chạy, rớt ruộng bây giờ.
— Đất trơn lùi đó, đi từ từ.
— Mấy đứa con nít vô miễu không có giỡn hớt nghe chưa, bị quở chết.
— Không ra mé sông giỡn nha chưa, lọt sông, ma da kéo dò tụi bây hết.....
Ngoài sông, xuồng ghe từ tứ hướng chèo lại đông nghẹt, chiếc đậu trước, chiếc cặp sau, nối nhau dài theo mé sông như ngày chợ lớn. Xuồng của bà con xóm Cầu Kinh, xẻo Lá, Ba Làng lần lượt tới đủ mặt. Vợ chồng cậu mợ Mười dắt theo ba đứa nhỏ ngồi chen chúc trong một chiếc xuồng tam bản; rồi xuồng của chú Chín Kẹp, chú Ba Phu, chú Bảy Tiệm, chú Tư Tùng cũng lật đật chèo vô. Chú Tư Nhàn là anh em chú bác họ với cậu Mười nên vừa thấy nhau đã réo om sòm cả một khúc sông. Thím Hai Tạo đi chung xuồng với thằng Đồng, chị Năm cùng anh rể nó bồng con ngồi phía mũi, còn chú Hai Tạo thì theo xuồng mấy ông nhạc, chở đủ thứ đờn cò, đờn kìm, trống, kèn từ phòng lễ họ đạo đem lại.
Người ta vừa cập bến là kẻ khiêng đồ, người bưng lễ vật, chen nhau đi vô miễu đông như kiến cỏ. Trong sân, mấy đứa nhỏ gặp nhau thì mừng húm, chạy giỡn tưng bừng, đứa này rượt đứa kia, mặc tình người lớn la rầy om sòm mà tụi nó cũng không chịu đứng yên.
Đám trai tráng thì chia nhau làm việc. Người kê bàn sắp ghế cho ngay hàng thẳng lối để lát nữa tiếp khách, người quét dọn, lau chùi bàn thờ, đánh bóng lư hương, sửa soạn đèn nhang, mấy cô gái thì chưng bông trái cho đẹp mắt. Mấy chú trong ban đờn khiêng nhạc khí vô để trên bộ ván, nào trống, nào kèn, nào đờn cò, đờn sến, cái mõ đủ kiểu. Có một chú ngồi lui cui trên bộ ván, sửa soạn bàn thờ Tổ: một dĩa trái cây nhỏ, một bình bông trang đỏ thắm, cây đèn cầy với lư nhang đặt ngay ngắn trên cái khay gỗ. Coi cách sửa soạn cũng đủ hiểu lòng người làm nghề đờn ca trọng Tổ nghiệp biết chừng nào.
Dưới nhà bếp thì càng thêm rộn rịp. Mấy thím, mấy cô xăn tay áo, người lặt rau, người nhóm bếp, người bằm thịt, tiếng dao thớt lóc cóc hòa với tiếng cười nói nghe rôm rả vô cùng. Ai nấy đều có phần việc riêng, làm luôn tay luôn chân, không ai ngồi không một phút.
Làm lụng từ buổi trưa cho tới xế chiều, mọi việc mới đâu vào đó. Đèn măng-xông được chong lên sáng rực cả cái miễu, ánh sáng hắt ra ngoài sân coi thiệt vui mắt. Bàn ghế sắp đặt chỉnh tề; trên mỗi bàn đều có bình trà, chai rượu đế, dĩa trái cây, bánh săng banh cùng mấy cái ly nhỏ úp gọn gàng. Các bàn thờ đều chưng bông trái đầy đủ, nhang đèn nghi ngút.
Hồi ban chiều còn nghe ồn ào náo nhiệt, mà tới lúc đèn lên hết rồi thì không khí trong miễu bỗng đổi khác. Người ta nói năng nhỏ nhẹ hơn, ai đi ngang bàn thờ cũng cúi đầu cung kính. Cả cái miễu bà lúc bấy giờ coi thiệt trang nghiêm, thiêng liêng, làm cho lòng người tự nhiên cũng sanh ra một sự kính sợ mơ hồ. Sau giờ cúng là tiệc trà, tiệc rượu và màn chơi đờn ca tài tử. Trong đám đông đó có tên Bảy Bòn, nó là tên Trưởng Ấp mà dân trong làng không một ai nể nang, đêm đó nó kéo một đám lính năm bảy người vô nhậu say sưa tới nửa đêm.
Sáng bữa sau, bờ đê lại đông nghẹt người qua lại. Xe bò, xe ngựa chở trái cây, chè xôi vô miễu. Người đội bánh tét, bánh ít, kẻ xách giỏ mãng cầu, xoài, thanh long trồng đây. Dưới sông xuồng ghe chen nhau chở heo quay, vịt quay, bánh ú, bánh in đủ thứ.
Cậu mợ Mười cũng sửa soạn lễ vật xuống xuồng đi cúng. Nhà nào nhà nấy đều tất bật, rộn ràng như ngày hội lớn.
Cậu Mười với mợ Mười ở trong nhà lật đật bước ra. Cậu thì bưng một mâm xôi đậu xanh, lấy lá chuối đậy kín mít cho khỏi bụi gió; còn mợ thì hai tay nâng mâm bánh ít mới gói hồi sớm. Hai đứa nhỏ thấy sắp được đi cúng miễu thì mừng quýnh, chạy lăng xăng xuống xuồng trước, đứa này níu mũi xuồng, đứa kia đòi cầm chèo, làm rộn rịp cả mé sông.
Mợ Mười cúi mình bước xuống xuồng, tay còn ôm mâm bánh ít cho khỏi nghiêng đổ. Trên bờ, cậu Mười đứng trước cửa nói vọng vô cho bà Năm hay:
— Má với con Tư ở nhà nghen. Vợ chồng con dắt hai đứa nhỏ vô miễu cúng.
Bà Năm tuổi già, nói năng khoan thai, nghe vậy mới dặn:
— Sông suối hà rầm, bây dẫn tụi nhỏ đi thì phải coi chừng đa.
Dưới xuồng, tiếng mợ Mười cười cười vọng lên:
— Hai đứa nó lội như rái đó má, má lo chi!
Bà Năm lãng tai, nghe không rõ, mới day qua hỏi cậu Mười:
— Vợ bây nó nói cái gì đó?
Cậu Mười đáp:
— Bả nói hai đứa nhỏ biết lội giỏi lắm, má khỏi lo.
Bà Năm nghe vậy cũng chưa yên bụng, bà lắc đầu mà nói:
— Ờ, biết lội thì biết lội, chớ bây đừng có dễ ngươi.
Cậu Mười không đáp nữa. Cậu ngó con Hai đứng kế bên rồi căn dặn:
— Lát nữa con nấu cơm, dọn cho bà nội ăn nghen Hai.
Con nhỏ ngoan ngoãn dạ một tiếng thiệt lớn.
Rồi cậu Mười bước xuống xuồng, chống chèo cho xuồng rời bến. Chiếc xuồng lướt theo con nước đục ngầu mùa mưa, lần lượt chèo ngang nhà Tư Tùng, Ba Vân, Hai Tạo, Bảy Tiệm, Chín Kẹp, rồi tới nhà Tư Nhàn, Ba Phu, Bảy Lúa, Chín Sỏi, Tư Cam với Út Tình. Nhà nào nhà nấy cũng rộn ràng sửa soạn. Người thì bày trái cây, người gói bánh trái, kẻ khiêng mâm lễ xuống xuồng để đi vô miễu cúng. Cả một xóm sông nước nhứt tề nao nức, làm cho cái buổi sáng bữa ấy coi thiệt có không khí lễ nghi và đượm tình xóm giềng Nam Bộ.
Trong miễu hôm ấy, hương chức hội tề làng Vĩnh Tây nhóm mặt đông đủ. Người mặc áo dài khăn đóng, người mặc bà ba đen, Phật tử mặc áo lam, tín đồ Cao Đài áo trắng, tín đồ Hòa Hảo áo dài. Có ông Hương Cả tuổi ngoài bảy mươi, đang ngồi bàn tròn uống trà với ông Hai.
Tiếng trống lễ vang lên từng hồi. Chú Út Tình làm Chánh tế quỳ trước bàn thờ Ngũ Hành. Bồi tế quỳ ở bàn nghi phía sau, lễ sĩ mặc lễ phục dâng hương, trà, rượu, hoa, quả. Chú Ba Phu quỳ đọc sớ, giọng trầm ấm ngân vang giữa tiếng nhạc lễ nghe hết sức trang nghiêm.
Cúng kiếng xong xuôi, bà con ngồi lại ăn uống chuyện trò rôm rả. Rồi tới màn múa bóng, múa mâm dâng bà. Tiếng song lang gõ nhịp, nghệ nhân đọc bài chầu theo điệu Vân Tiên, mấy nghệ nhân đội mâm vàng bạc trên đầu mà múa uyển chuyển, coi đẹp mắt vô cùng.
Một ngày cúng miễu rồi cũng dần trôi qua. Không khí nhộn nhịp từ từ lắng xuống. Người còn, kẻ về. Ai ra về cũng xin chút lộc bà như nắm xôi, cái bánh ít hay vài trái cây đem về lấy hên.
Đám cúng miễu cũng thưa dần. Từng hàng người lục tục trở về dưới bóng mát hàng dừa xiêm, để lại cái miễu bà yên lặng bên ngã ba sông như thuở nào.
Đăng nhập để bình luận và ủng hộ tác giả
Đăng nhập ngay