Từ cái ngày nó không cho chị đứng gần cổng trường nữa, trong nhà bắt đầu có những đổi thay rất nhỏ, nhỏ tới mức nếu chỉ nhìn qua, người ta sẽ tưởng chẳng có gì. Chị vẫn ra sông từ tinh mơ, vẫn chống ghe đi trong lúc bên kia bờ còn chưa tắt hết đèn, vẫn ngồi gỡ cá, vá lưới, vẫn về chợ bán cho hết mớ tôm mớ cá kiếm được rồi mới quay về. Nó vẫn đi học, vẫn lớn lên, vẫn ăn cơm trong căn nhà đó, ngủ trên cái chõng đó. Mọi thứ nhìn bề ngoài không khác, nhưng cái khoảng cách đã hình thành ở cổng trường, lạ là nó không nằm ở ngoài đó mà theo hai má con về tận trong nhà. Nó len vào bữa cơm, len vào cách nó trả lời, len vào cả những lúc chị muốn hỏi gì rồi lại thôi.
Chị không biết từ lúc nào mình bắt đầu để ý nhiều hơn tới những thứ rất nhỏ. Chẳng hạn như trước đây nó đi học về thường quăng cặp xuống rồi ra sau nhà rửa mặt, còn bây giờ nó xách cặp vô thẳng trong góc, kéo lại ngay ngắn, như sợ ai nhìn thấy thứ gì trong đó. Trước đây nó ăn cơm còn kể đôi ba câu ở lớp có chuyện gì, đứa nào bị phạt, thầy cô nào khó, bây giờ thì không. Chị hỏi một câu, nó trả lời một tiếng. Có khi không trả lời. Chị cũng không ép. Chị đâu phải người nhiều lời, với lại đời sống ở xóm chài dạy người ta quen với chuyện có những thứ không hỏi ra được. Nhưng không hỏi không có nghĩa là không biết. Chị biết nó đang dần dần rời khỏi chị theo một cách mà chị không níu được. Cái buồn của chị cũng không phải kiểu bùng lên. Nó âm ỉ, lặng lẽ, giống như nước rút từng chút một, tới khi nhìn lại mới thấy bờ đã trống từ lúc nào.
Nó lớn nhanh hơn chị tưởng. Mấy bộ đồ xin lại của người ta hồi trước vừa mặc được một năm đã ngắn cũn cỡn. Chị đi chợ, đi ngang mấy sạp quần áo vẫn hay đứng lại nhìn, tay xoa xoa vạt áo mình rồi nhìn sang mấy cái áo sơ mi treo phía trong. Có hôm bán được mớ cá khá hơn thường lệ, chị lén để riêng một ít tiền, mấy bữa sau quay lại mua cho nó một cái áo mới. Cái áo không phải loại đẹp gì, chỉ là vải còn cứng, cổ áo chưa sờn, tay áo ngay ngắn. Chị đem về, giặt sơ qua một lượt rồi phơi. Sáng hôm sau chị đưa cho nó, nói mặc đi học đi con. Nó cầm, nhìn qua rồi ậm ừ. Hôm đó nó có mặc thật, nhưng từ lúc bước ra cửa tới lúc qua sông, nó không nói một câu nào. Chị cũng chẳng biết nó có thích không, chỉ nhìn tấm lưng nó phía trước, thấy cái áo mới nằm trên người nó mà trong lòng cứ trống rỗng, như thể thứ chị muốn cho nó không phải chỉ là một bộ đồ, mà là một cái gì đó khác, cái gì mà chị không có.
Những khoản tiền ở trường tới với chị bằng lời người khác. Chị không biết chữ, nên mọi thứ có dính tới giấy tờ đều phải nghe lại từ ai đó trong xóm hoặc nhờ người đọc giùm. Hễ trường phát tờ giấy gì đem về, chị cũng cầm lên coi rất lâu, không phải vì hiểu được gì, mà chỉ vì thấy trên đó là chuyện của nó. Mấy hàng chữ đen sì trên nền giấy trắng đối với chị lúc nào cũng giống nhau, nhưng chị vẫn nhìn, như thể nhìn riết rồi sẽ đoán ra được. Tới khi không chịu nổi nữa, chị mới cầm qua nhờ chị Chín hay chú Bảy đọc giúp. Có bữa nghe nói mai phải đóng tiền này, tuần sau phải nộp khoản kia, chị về nhà lục hết chỗ để tiền, đếm đi đếm lại mấy tờ bạc đã mềm nhũn, nếu thiếu thì hôm sau phải ra sông sớm hơn, về trễ hơn, ráng kiếm thêm chút nào hay chút đó. Đời chị quen rồi, cực thêm chút nữa cũng không sao, miễn nó còn đi học được.
Có điều, chị chưa từng đi họp phụ huynh cho nó lần nào. Không phải chị không muốn đi. Có những bữa gần tới ngày họp, chị tính trong đầu hay là bỏ chợ một buổi, bỏ sông một sáng mà đi, nhưng rồi nhìn lại gạo trong hũ, tiền đóng học sắp tới, tiền dầu, tiền mắm muối, chị lại không dám. Một buổi không ra sông, có khi mất luôn tiền ăn của mấy ngày sau. Nên chị đành nhờ người khác đi giùm. Lúc thì chú Bảy, lúc thì anh Hai đầu xóm, có khi chị Chín rảnh thì đi. Ai trong xóm cũng biết hoàn cảnh của chị, biết chị không phải lười biếng hay vô tâm, nên chẳng ai nề hà. Họ đi rồi về kể sơ cho chị nghe hôm nay thầy nói gì, nó học ra sao, có bị nhắc chuyện gì không. Chị nghe kỹ lắm, nghe xong thường ngồi im một lúc rồi mới gật đầu. Nhiều điều nghe mà không hiểu hết, nhưng cái gì liên quan tới nó thì chị nhớ dai hơn cả chuyện chợ búa.
Nó không thích chuyện đó. Có lần họp phụ huynh xong, chiều về nó bước vô nhà với cái mặt lì ra, đặt cặp xuống mạnh hơn thường ngày. Chị đang ngồi lựa mớ cá nhỏ đem kho, ngẩng lên hỏi bữa nay sao vậy con. Nó đáp không có gì. Chị nhìn nó một lúc, thấy cái quai hàm nó cứng lại như đang cố nuốt thứ gì đó xuống. Chị không hỏi thêm. Tối bữa đó, nó ăn rất ít. Chị gắp cho miếng cá, nó cũng không đụng. Từ bữa đó trở đi, cứ hễ có chuyện gì ở trường dính tới người lớn là nó càng ít nói với chị hơn, như thể chị là một phần của cái điều làm nó khó chịu mà nó không biết phải đẩy ra bằng cách nào ngoài việc im lặng.
Rồi những bữa cơm bắt đầu nguội dần trong chính lúc còn ngồi chung với nhau. Không phải vì cơm ít, cũng không phải vì trong nhà không còn gì để ăn. Chị vẫn dành phần ngon cho nó như cũ. Bữa nào trúng con cá lớn, chị lựa khúc bụng ít xương nhất gắp qua chén nó. Bữa nào có con tôm còn tươi, chị cũng để phần nó trước rồi mình mới ăn phần đầu phần vỏ. Có bữa đi chợ thấy người ta bán mấy con cá ngon hơn thường ngày, giá cao, chị đứng ngó một hồi rồi vẫn cắn răng mua hai con nhỏ về kho cho nó. Lúc dọn cơm ra, chị nói cá này ngon lắm, ăn đi con. Nó ngó qua, lắc đầu, nói con không thích. Nói xong nó gẩy gẩy mấy hột cơm trong chén, ăn được vài miếng rồi đứng dậy. Chị ngồi lại một mình, nhìn khúc cá vẫn còn nguyên trong chén nó. Sau cùng chị kéo qua chén mình, ăn. Cá không dở. Vẫn ngon như lúc ở chợ chị đã nghĩ. Nhưng nuốt vào cứ mắc ở cổ.
Nó bắt đầu đi chơi nhiều hơn. Không phải chơi với mấy đứa trong xóm chài nữa, mà với bạn bên kia sông. Có bữa chiều tối mới về, có bữa nói ngủ lại nhà bạn. Chị nghe, chỉ hỏi đi đâu, chừng nào về. Nó trả lời qua quýt, khi thì nói không biết, khi thì nói khuya. Chị muốn dặn thêm vài câu, nhưng nhìn mặt nó là lại thôi. Chị biết cái tuổi đó người ta không thích bị hỏi han nhiều. Chỉ có điều mỗi lần trời sụp tối mà nó chưa về, chị vẫn đứng ngồi không yên. Có đêm mưa, nước ngoài sông đánh vô bờ nghe nặng nề, chị ra trước cửa đứng nhìn mãi vào màn tối. Hỏi mấy nhà chung quanh, không ai biết nó ở đâu. Tới lúc nó về, người ướt lướt thướt, tóc dính vào trán, chị vừa mừng vừa giận, nhưng mừng nhiều hơn. Chị hỏi sao giờ này mới về, nó không trả lời, đi thẳng vô trong. Chị đứng sau lưng nó, câu trách móc lên tới miệng rồi tắt. Một lát sau chị chỉ hỏi có ăn cơm không. Nó lắc đầu. Vậy là nồi cơm tối hôm ấy lại để qua đêm, sáng ra hâm lên cho chị ăn đỡ.
Những thứ nhỏ nhặt cứ vậy mà tích lại. Cái chén nó để không đúng chỗ. Bộ đồ đi học nó treo riêng, không để chị đụng vào. Những lúc chị đang nói nửa câu, nó quay đi như không nghe thấy. Nhiều khi chị thấy mình giống người đi sau lưng nó, muốn gọi mà không dám gọi lớn, muốn nắm mà không dám chìa tay ra. Cái khó nhất không phải là nó hỗn hay cãi lại. Nếu nó cãi, có khi chị còn biết đường mà la, mà khóc, mà giận. Đằng này nó cứ lạnh dần. Lạnh kiểu của người đã bắt đầu thấy xấu hổ vì nơi mình đi ra, vì người đang nuôi mình, mà bản thân nó cũng không biết phải làm sao với sự xấu hổ đó ngoài việc tránh đi.
Đăng nhập để bình luận và ủng hộ tác giả
Đăng nhập ngay