VANGUARD Corp. LƯU TRỮ NỘI BỘ Tiêu đề: Tài liệu tổng quan về Gnosium — Thành phần, Hành vi và Tác động Soạn thảo bởi: Vanguard.Lab, Bộ phận Nghiên cứu Gnosium Đối tượng đọc tài liệu là nhân sự thông thường của tập đoàn Vanguard. A.KHÁI QUÁT - ĐỊNH NGHĨA Gnosium - /ˈnoʊ.si.əm/ - Là nguyên tố hóa học phổ biến trên Trái đất, thường xuất hiện dưới dạng một khoáng vật tinh thể màu đen, bán trong suốt– Gnosite. Dạng bụi mịn trong không khí. Cặn bẩn không tan trong nguồn nước. Hay các hạt vi mô trong cơ thể sinh vật sống… - Có thể được tìm thấy Gnosite trong mỏ khoáng và “mọc” tự nhiên trên bề mặt trái đất. Khu vực giàu khoáng vật Gnosite nhất là Châu Mỹ. 1. Nguồn Gốc Note: nguồn gốc của nguyên tố này vẫn chưa được làm rõ, sau đây là những giả thuyết phổ biến nhất. a. Nguồn gốc ngoại lai - Đây là giả thuyết phổ biến nhất giải thích cho sự kì lạ của Gnosium. - Giả thuyết này cho rằng Gnosium xuất hiện trên trái đất cổ xưa sau khi va chạm với một thiên thạch lớn chứa nhiều khoáng vật Gnosite. - (?) Các nền văn minh cổ có nhắc đến Gnosium trong truyền thuyết dân gian, hay các phiến đá của mình với hình tượng một vị thần trên trời cao ban tặng những viên đá này cho con người. b. Di sản - Giả thuyết này cho rằng, loài người hiện tại không phải nền văn minh đầu tiên. Rất có thể Gnosium là một sản phẩm của tiền văn minh, gây ra tai họa khiến nền văn minh ấy sụp đổ. c. Cư dân bản địa - Giả thuyết này cho rằng, con người là người ngoài hành tinh di cư đến Trái đất. Khoáng vật Gnosite lúc bấy giờ là cư dân bản địa của tinh cầu này. Chúng có thể chẳng phải một mẩu đá vô tri nữa, mà hoàn toàn có khả năng là một sinh vật sống khác gốc Carbon của loài người. - (?) Con người chúng ta không có khả năng thích nghi hoàn toàn với môi trường sống của h hành tinh xanh này, dường như đây không phải quê nhà lý tưởng. Chúng ta chỉ đang tìm cách chống chọi lại các điều kiện khó khăn. Lẽ ra đây mới là quê nhà của “Người đá – Rock Humans” 2. Tính chất vật lý - Khác với các khoáng vật tinh thể khác, Gnosium phát triển và lan rộng, mọc tự nhiên trong tự nhiên, và thậm chí có thể hòa nhập với vật chất hữu cơ nếu có cơ hội. - Khoáng vật Gnosite luôn phát ra một loại bức xạ năng lượng cao (hoặc thấp) tạo nên [Range] của nó. Tuy nhiên, trái với những gì người ta có thể nghĩ, Gnosium thực tế không phải là chất phóng xạ. - Gnosium không khiến vật chất xung quanh chúng trở thành một nguồn phóng xạ thứ cấp. - Gây ra đột biến sinh học“tương tự” các tác nhân phóng xạ thông thường khi được “khảm” vào cơ thể. - tính dẫn điện: +có tính bán dẫn khi ở ngoài môi trường tự nhiên. +trở nên siêu dẫn khi ở trong cơ thể của con người. - cấu trúc tinh thể: (?) Khoáng vật Gnosite có mạng tinh thể kiểu Lục giác phân tầng tương tự như Graphene hoặc Molybdenite. 3. Tính chất hóa học - (?) Có tính trơ, (?) Nó “không muốn” phản ứng với bất kì chất hóa học nào. - (?) Điều chế : (?) 4. Khoáng vật – Đá quý a. Dạng cơ bản - Gnosite ở dạng tinh thể thông thường có màu đen, bán trong suốt không quá nổi bật so với những khoáng vật khác. b. “Đá quý trong suốt” - Gnosite loại này không còn mang màu đen bán trong suốt như ban đầu của nó mà có màu sắc đa dạng và rực rỡ như những viên đá quý thông thường. - Chỉ được tìm thấy khi Gnosite mọc lên từ xác của con người; một số đổi tượng con người đặc biệt mới có thể mọc lên loại Gnosite – đá quý trong suốt. - Cơ thể con người lúc này dường như đóng vai trò làm một cái chậu để “trồng” một cái cây cho ra loại quả đá quý rực rỡ. 5. Ứng dụng a. Vũ khí, trang bị khảm đá - Một số vũ khí cổ có đá quý trong suốt được khảm lên chúng có thể gây ra những hiệu ứng đặc biệt. Ví dụ:lưỡi dao làm bỏng vết cắt, thanh gươm có khả năng chống biến dạng tốt hơn, găng tay có hệ số ma sát lớn đáng kể giúp người mang nó cầm nắm tốt hơn… b. Ứng dụng niềm tin tâm linh - Từ xa xưa, các thầy bói thường dùng khoáng vật Gnosite như là vật trung gian kết nối với cõi tâm linh, hay giúp cân bằng và điều hòa năng lượng. Họ tin rằng nó dường như phát ra một loại “tần số năng lượng”, giúp các thầy bói làm sạch không gian, bảo vệ khỏi năng lượng tiêu cực, và giúp họ tập trung và dễ cảm nhận hơn. c.Ứng dụng lý thuyết Chồng chất - Gnosium và các hành vi của nó mở ra một trạng thái mới của thực thể trong thời không là [Chồng chất]. - Một thực thể được định nghĩa là [Chồng chất] khi nó ở trong thời không nhưng lại mang nhiều trạng thái cùng một lúc. Cho đến khi xuất hiện hiện một điều kiện khiến thực thể mất đi sự [Chồng chất], trở về một trạng thái xác định. Ví dụ: - một con mèo được đặt trong một chiếc hộp kín mà người quan sát không thể quan sát [Hiện thực] của sinh vật đặt bên trong. Lúc này, thực thể “con mèo” đang tồn tại trong thời không bên trong một chiếc hộp kín đang tồn tại ở hai trạng thái giả định là “còn sống” và “đã chết”. Thực thể đã mang trong mình sự [Chồng chất], nó sẽ trở về một trạng thái xác định trong hai trạng thái giả định đã đặt ra ngay khi xuất hiện điều kiện “người quan sát” mở chiếc hộp kia ra và xem xét trạng thái của thực thể “con mèo”. Note: Các ứng dụng khác của Gnosium vẫn đang được nghiên cứu. B. HÀNH VI - Dạng khoáng vật của Gnosium là Gnosite có một số hành vi dị thường. 1. khảm đá quý - Khảm tự động: Khoáng vật Gnosite dạng đá quý trong suốt dường như sẽ tự động hòa nhập vào cơ thể của con người khi bị nhét vào các vết thương hở không phụ thuộc vào kích thước và vị trí, nó tồn tại ở đó [Chồng chất] với hai trạng thái cùng một lúc là [Tồn tại] và [Không tồn tại]. - Khảm thủ công: Khoáng vật Gnosite dạng thường cần phải được chủ động gắn vào vết thương trên cơ thể. Sau đó hòa nhập vào cơ thể của con người, và tồn tại tương tự như Gnosite dạng đá quý trong suốt. 2. Đá quý trong suốt tìm kiếm vật chủ - Gnosite dạng đá quý trong suốt tìm kiếm vật chủ thích hợp để khảm thông qua “định mệnh” của họ. Không tuân thủ một quy tắc cố định nào. - Nếu không được chọn, cho dù ta có lao đến vồ lấy viên đá ngay trước mặt, thì sẽ xảy ra những biến cố vô cùng trùng hợp khiến ta không thể đạt được viên đá ấy. Dòng chảy của định mệnh bảo vệ đường đi của đá quý trong suốt dẫn đến vật chủ. 3. Hồng ân - Ta có thể sở hữu những siêu năng lực thông qua khoáng vật Gnosite. a. Năng lực đá quý – Gemability - Gnosite dạng đá quý trong suốt được khảm vào trong cơ thể một đối tượng con người khiến họ sử dụng được năng lực đá quý - [Gemability] bên trong phạm vi ảnh hưởng - [Range] của lõi đá quý. Không khiến người dùng chịu ảnh hưởng xấu của Gnosium. - Gnosite dạng thường phảiđược khảm vào trong cơ thể một đối tượng con người để khiến họ có tỉ lệ thức tỉnh [Gemability] của riêng mình, hoặc chịu nhiều các tác động xấu của Gnosium theo thời gian sau khi khảm đá. - Tỉ lệ thức tỉnh: +Trẻ em, thanh thiếu niên trong giai đoạn phát triển có tỉ lệ thức tỉnh được [Gemability] cao hơn so với người trưởng thành, cơ thể phát triển hoàn thiện. b. Trang sức khảm đá - Đeo trang sức có khảm đá quý trong suốt cũng giúp ta sử dụng [Gemability]. Tuy nhiên, có lẽ là do lõi đá quý nằm bên ngoài cơ thể nên năng lực có thể sử dụng bị hạn chế, thuyên giảm. - Gnosite dạng thường thì chỉ có vai trò trang trí như đá quý thông thường. c. Đá quý kết hợp - Giả thuyết này cho rằng một người có thể kết hợp sử dụng nhiều [Gemability] cùng một lúc trong một cơ thể đã thức tỉnh [Gemability] và đeo trang sức khảm đá. Note: các thí nghiệm về khía cạnh này vẫn đang được nghiên cứu. C. TÁC ĐỘNG < Tác động đến cá nhân > 1. Gemability bất lợi - Nếu đã vượt qua rủi ro nếu không thể thức tỉnh năng lực. Đối tượng được khảm đá không thể kiểm soát việc bản thân sẽ thức tỉnh năng lực gì, đó có thể là một lực tạo ra các bất lợi cho mình. - Việc thức tỉnh [Gemability] có rủi ro rất cao, nhân sự của Vanguard corp. có đặc quyền tiếp cận với nguồn Gnosite cần lưu ý và cân nhắc kĩ trước khi làm đơn xin phát triển năng lực ở các chi nhánh bệnh viện, đại học y dược trực thuộc tập đoàn. Note: Để tránh rủi ro do việc thức tỉnh [Gemability] tràn lan, khoáng vật Gnosite đã bị hạn chế lưu hành trong thương mại dân sự, quốc tế. 2. Ảnh hưởng sinh lý a. Bệnh nan y Gnosipathy - Gnosium có tác động xấu đến sức khỏe của con người thông qua bệnh Gnosipathy (Gnosium Enlightenment Syndrome) khi có tồn tại khoáng vật vi mô bám vào Hemoglobin và Protein huyết tương. - Người mắc đã Gnosipathy sẽ không thể mắc phải bệnh tật nào ngoài Gnosipathy. - Dựa trên nồng độ tinh thể Gnosium trong máu để phân loại mức độc nhiễm bệnh + [ Khoảng nồng độ ) đơn vị u/L : Ghi chú tình trạng lâm sàng > Mức độ bệnh + triệu chứng căn bản + [0 – 0.05) u/L : Không phát hiện, phát hiện vi lượng trong máu. > Không nhiễm + [0.05 – 0.1) u/L : Có tồn tại Gnosium trong máu qua tiếp xúc với môi trường, chưa phát bệnh. > Tiền nhiễm + [0.1 – 0.3) u/L : Bệnh nhân dương tính nhẹ > Gnosipathycấp C : Bề mặt da của bệnh nhân xuất hiện xuất hiện các vùng sậm màu gây nhói hoặc ngứa nhẹ. + [0.3 – 0.8) u/L : Xuất hiện kết tinh mô. > Gnosipathycấp B : Gnosite bắt đầu hình thành tại mô mềm dưới da, quanh khớp. Gây đau cơ, chuột rút, rối loạn nhận thức tại đó. + [0.8 – 2) u/L : Kết tinh lan rộng, có nguy cơ tử vong và phát tán Gnosium vào môi trường. > Gnosipathy cấp A : Cơ quan nội tạng bị kết tinh. Bệnh nhân yếu dần, da nổi mảng cứng, xuất huyết nội, và rối loạn tiền đình, hoặc xuất hiện các triệu chứng bệnh suy giảm nhận thức. + >2 u/L : Phần lớn cơ thể bị kết tinh, vô phương cứu chữa. > Gnosipathy giai đoạn cuối : Cơ thể người nhiễm bị tinh thể hóa phần lớn, phát tán Gnosium vào môi trường, và mất đi một số tiến trình sinh lý thông thường (hô hấp, co duỗi cơ bắp,… ) b. Đồng hóa tế bào và Người đá - Việc xuất hiện kết tinh trong cơ thể gọi là Đồng hóa tế bào – Gnosium, dựa trên tỉ lệ phần cơ thể bị thay thể bởi Gnosite ta có thể tìm ra những người đặc biệt – [Người đá – Rock Humans]. [Người đá] có tỉ lệ đồng hóa phi thường >50% mặc dù không nhiễm Gnosipathy. Rất có thể đây là một chủng người đã tiến hóa để thích nghi với điều kiện Gnosium trên Trái đất, miễn nhiễm với bất kì loại bệnh tật nào đang tồn tại. Mở ra tương lai mới của nhân loại – thế giới không bệnh tật. Tuy nhiên, [Người đá] rất khó để được định danh bởi hơn 50% cơ thể bị thay thế nhưng Gnosite trong cơ thể không thể được tìm thấy; dường như nó đang trong một trạng thái [Chồng chất] bao gồm việc không tồn tại bên trong cơ thể. - [Người đá] luôn có thể sử dụng được [Gemability] mặc dù không khảm đá. Họ sinh ra đã có thể sử dụng được siêu năng lực. c. Di truyền và Quy luật hình thành Gemability Tinh thể Gnosium luôn phát ra một loại bức xạ không phải bức xạ thông thường của các chất phóng xạ thông thường nhưng cũng gây ra đột biến kì lạ. Các yếu tố di truyền trong cơ thể dường như bị thay thế bởi chính nó ở một thế giới khác. - Nucleotide Alter và sự xâm thực : + Sự xâm thực của Nucleotide là các Nucleotide tự do trong tế bào chất bị thay thế bởi một phiên bản khác của nó gọi là Nucleotide Alter hay Nucleotide xâm thực. A? thay cho A, T? thay cho T, G? thay cho G, C? thay cho C, U? thay cho U. + A?,T?,G?,C?,U? liên kết với nhau theo nguyên tắc bổ sung với Nucleotide thông thường và Nucleotide Alter. Ví dụ : + trường hợp 1: trong một đoạn DNA trong quá trình phiên mã ra một trình tự mRNA có (kí tự bên phải là mạch gốc DNA theo chiều 3’- 5’) > A – U? , T – A?, G – C?, T – A, C - G... + trường hợp 2 : trình tự mRNA dịch thành trình tự các amino acid trong chuỗi polypeptide. > bộ ba mở đầu AU?G —> phức hợp amino acid mở đầu Met? – tRNA được vận chuyển đến ribisome và bộ ba đối mã U?A?C? bố xung chính xác với codon AU?G. Sau đó kéo dài chuỗi polypeptide cứ như vậy cho đến khi ribosome dịch chuyển đến cuối phân tử mRNA và kết thúc quá trình dịch mã. Note: Nucleotide Alter là nucleotide giả thuyết giải thích cho sự dị thường của [Người đá] - Đột biến : + Gnosium chỉ gây ra các đột biến gen thuộc dạng thay thế một bộ ba mã hóa thông thường bằng một bộ ba mới đồng nghĩa,hoặc một bộ ba xâm thực mới đồng nghĩa. + Không làm dịch chuyển khung đọc. + Không thay thế, làm ảnh hưởng đến các bộ ba khởi đầu và kết thúc. - Tính trạng : + Tế bào chịu ảnh hưởng bởi bức xạ Gnosium nên xảy ra các đột biến với bản chất chẳng làm thay đổi tính trạng thông thường nào. Cơ thể biểu hiện thêm tính trạng đặc biệt của [Người đá] nằm ở việc thức tỉnh và sử dụng [Gemability]. - Di truyền của người đá: + Phần lớn tính trạng của [Người đá] trội hoàn toàn so với người bình thường. + Con cái của cha hoặc mẹ là [Người đá] thì sẽ có tỉ lệ 100% thức tỉnh và sử dụng [Gemability] có điểm tương đồng, đồng dạng với cha hoặc mẹ. Ngoài ra, nếu là con cái thuần chủng của cặp cha mẹ [Người đá], có thể dùng một loại [Gemability] kết hợp năng lực của cả hai, tương tự như hành vi đá quý kết hợp. - Tâm thần bất ổn: + Một cá nhân bị mắc bệnh có lẽ là một cú sốc tâm lý mạnh, hoàn toàn khiến họ suy sụp, sợ hãi trước án tử tồn tại bên trong cơ thể mình. + Bên cạnh đó, Gnosipathy là một căn bệnh nan y có tính truyền nhiễm, mặc dù khả năng lây nhiễm từ người sang người khá thấp và không hiệu quả như các bệnh truyền nhiễm khác. Bệnh nhân có thể trở thành mục tiêu đả kích, kì thị. Note: Là một nhân sự của Vanguard corp. hãy sống thật tốt và giàu lòng nhân ái. <Tác động đến xã hội> - Căn bệnh nan y mà Gnosium mang lại và hồng ân chúng ban tặng đã tạo ra những tác động mạnh mẽ đến xã hội. 1. Kỳ thị người nhiễm bệnh - Người bệnh được xem là một nguồn bệnh di động cho căn bệnh nan y gây ra bởi Gnosium không thể chữa khỏi với công nghệ của con người hiện tại. Cũng giống như HIV, Giang mai, Viêm gan B/C, Herpes,… căn bệnh này cũng tạo nên một nỗi sợ nhiễm bệnh trong cộng đồng. - Gnosium có lẽ đã làm lung lay nền tảng đạo đức của con người. Ở một số quốc gia người bệnh được coi như là “Bệnh hóa quỷ”, tên gọi này bắt nguồn từ cái xác hóa đá của người nhiễm cùng những hành vi và tính chất kì dị của Gnosium và dạng khoáng vật của nó. Họ bị áp dụng những biện pháp kì thị, cách ly và phân biệt. 2. Phe phái hỗn kháng - Vì bị xa lánh, kì thị, sợ hãi, người nhiễm bệnh dễ mắc các bệnh tâm lý, dễ bị dẫn dụ tham gia các phong trào hỗn kháng, khủng bố chống lại chính quyền đã thờ ơ với bản thân. - Bệnh nhân với tâm lý “không còn gì để mất, kiểu gì cũng chết”, dễ dàng làm những điều lớn lao, đồng hành với những kẻ xấu đi gieo rắc hiểm họa chết chóc. Đây là một kiểu trả thù xã hội. 3. Y tế và Đạo đức - Gnosium và dạng khoáng vật không phản ứng với sinh vật bậc thấp như chuột bạch thí nghiệm. Chúng chỉ có phản ứng với con người. - Việc nghiên cứu nguyên tố Gnosium đã mở ra một ngành nghiên cứu y học riêng biệt. Đồng thời nó cũng gây ra tranh cãi thông qua việc xem xét tính đạo đức. Việc thí nghiệm Gnosium đã vi phạm chuẩn mực đạo đức dựa vào việc phải thí nghiệm lên con người. 4.Quân sự và Chiến tranh - Nhiều suy đoán cho rằng, con người trong tương lai sẽ chẳng thèm dùng đến súng ống và bom đạn để tàn sát nhau. Thơi đại tiếp theo là của những siêu nhân, siêu năng lực gia vũ khí dị thường. - Việc phát triển một đội quân siêu năng lực dự sẽ tốn rất nhiều sinh mạng, để đổi lấy những [Gemability] mạnh mẽ và có giá trị trên chiến trường. - Giá trị của các mỏ khoáng Gnosite cũng đang ngày càng tăng lên. 5. Hiểm họa dị thường - Việc một nguyên tố kì lạ như Gnosium tồn tại đã là dị thường. Bên cạnh đó, nó còn tạo nên một hệ thống [Gemability] phá vỡ các quy tắc vật lý thông thường. - [Gemability] có loại yếu hoặc làm hại đến vật chủ của lõi, song song với nó là [Gemability] mạnh mẽ, có sức công phá không tưởng. - - - - - - - - —Đây là những hiểu biết mới nhất của Vanguard corp. dành cho nhân sự thông thường—
Đăng nhập để bình luận và ủng hộ tác giả
Đăng nhập ngay