Chương 1: Những Tờ Báo Bay Trên Sông Hàn
Trước Sau

THẰNG KHƯƠNG VÀ CUỐN SỔ BỌC DA BÒ

Cập nhật: 04/06/2026

Đà Nẵng buổi sáng sớm thường bắt đầu bằng tiếng còi tàu sành sạch ngoạm vào sương mù ven sông Hàn, và tiếng dép lẹp xẹp của thằng Khương băm nát vỉa hè đường Bạch Đằng.

Năm nay Khương mười một tuổi rưỡi. Nó cẩn thận tính luôn cả cái khoảng "rưỡi" đó, bởi vì cái thân hình tong teo chừng hai mươi mấy ký lô không cho phép nó hào phóng ăn bớt của mình tháng ngày nào. Gia tài của Khương gồm có hai thứ: một đôi chân đen nhẻm chạy nhanh hơn con chó vện của ông Tám đầu hẻm, và một cái miệng dẻo quẹo như kẹo kéo. Ngày nào cũng vậy, khi ông mặt trời còn lười biếng ngái ngủ dưới chân đèo Hải Vân, Khương đã đứng chầu chực ở đại lý báo khu chợ Cồn.

"Báo đây! Báo mới ra lò nóng hổi vừa thổi vừa đọc đây! Tin giật gân: Băng trộm xe đạp sa lưới! Cụ già sáu mươi trúng số độc đắc mua nhà lầu đây!"

Giọng thằng Khương lanh lảnh vút lên xé toạc màn sương ẩm ướt, mặn chát mùi nước lợ. Thường thì nó chẳng biết cụ già nào trúng số, cũng chả thèm bận tâm băng trộm nào xơi cơm tù. Nhiệm vụ của nó là làm sao tống khứ sáu chục tờ báo gác trên khuỷu tay trước khi cái dạ dày bắt đầu đánh trống múa lân.

"Ê Khương tấu, qua đây biểu coi!" Chú Năm Lộ vẫy vẫy cái nón cối, nhổ toẹt bãi nước chè xanh xuống gốc bàng.

Khương lanh như sóc, vọt qua đường. "Dạ, chú Năm mở hàng cho con một tờ. Sáng nay có tin tức mùi mẫn lắm, diễn viên điện ảnh bị bồ đá tơi bời hoa lá."

"Mi xạo tài ghê. Đưa đây một tờ, lấy tiền lẻ trả lại đàng hoàng nghe mậy. Báo với chí, đọc chữ được chữ mất mà ngày nào cũng tốn mấy đồng bạc." Chú Năm càu nhàu nhưng tay vẫn móc túi quần lòi ra mớ tiền giấy nhàu nhĩ.

Khương toét miệng cười, lộ ra cái răng khểnh duyên gỡ gạc lại cho khuôn mặt lem luốc. Nó lật đật đếm tiền thối. Trúng mánh rồi. Mở hàng suôn sẻ thế này thì chỉ tầm chín giờ sáng là xong việc. Nó nhẩm tính trong đầu. Còn đúng ba ngày nữa là bé Cát, em gái nó, nhập học lớp Một. Má nó dạo này đau cái lưng, bóp bụng lắm cũng chỉ sắm nổi cho con nhỏ hai bộ đồ hoa dâu cũ mèm mua hàng xôn ở chợ trời. Bé Cát không đòi hỏi, nhưng đêm qua Khương thấy nó bó gối ngồi nhìn chằm chằm vào đôi dép nhựa đứt quai đã được đôn lên bằng một cục kẽm.

Khương hạ quyết tâm: phải mua cho bé Cát đôi giày Bata trắng. Loại giày vải lót mút êm ru, đi vào chân cứ nhẹ hẫng như bước trên mây, để cái tụi con nít trong hẻm không có cớ mà trêu chọc em nó. Đã gom góp được một mớ, cộng thêm ba ngày bán báo trối chết này nữa, thế nào cũng đủ.

Trời Đà Nẵng dở chứng. Gió nồm đang thổi rười rượi tự nhiên ngoắt cái, mây đen từ mé biển Mỹ Khê kéo vào đen kịt. Mưa bụi bắt đầu lất phất rắc xuống vai áo sờn chỉ của Khương.

"Chết cha, ướt báo!"

Khương vội vã ụp cái nón lá rách vành lên xấp báo, vắt chân lên cổ chạy tìm chỗ trú. Dãy mái hiên của tòa nhà Bưu điện thành phố chìa ra một khoảng đủ rộng. Nó chui tọt vào đó, thở dốc, đưa tay quệt ngang vệt nước mưa đọng trên trán.

Cái hiên vắng tanh. Giờ này người ta núp mưa trong mấy quán cà phê hết cả. Đang vỗ vỗ lại xấp báo cho phẳng phiu, mắt Khương chợt khựng lại ở băng ghế đá cách đó vài bước chân. Một vật gì đó màu nâu sậm, hình chữ nhật, nằm trơ trọi giữa trời lấm tấm nước.

Một cái ví?

Trái tim thằng bé đập thình thịch trong lồng ngực gầy guộc. Căn bệnh tò mò kinh niên của bọn trẻ con đường phố trỗi dậy. Nó ngó ngoáy xung quanh. Không có ai. Mưa tuôn nặng hạt hơn, gõ lộp bộp xuống mặt đường. Khương rón rén bước tới, thò tay nhón lấy vật đó.

Đó là một cuốn sổ tay khá dày, được bọc bằng lớp da bò thật, sờ vào êm tay đáo để. Bốn góc sổ viền kim loại màu đồng đã xỉn màu thời gian. Mùi của cuốn sổ là một thứ mùi kỳ lạ, không phải mùi mồ hôi chua loét của đường phố, mà là sự pha trộn giữa mùi giấy cũ, mùi tẩu thuốc lá thơm, và một chút ngai ngái của nước biển.

Khương ôm cuốn sổ vào ngực, lùi lại mái hiên. Chắc mẩm của một ông nhà giàu nào đó vừa lên xích lô làm rơi. Nếu trong này có tiền... Chỉ một tờ giấy bạc lớn thôi, là bé Cát có đôi Bata, má có thêm vài thang thuốc bắc. Trí óc non nớt của nó bắt đầu vẽ ra những viễn cảnh huy hoàng. Sự cám dỗ ngọt ngào như cục kẹo bi xanh đỏ.

Nó run rẩy lật trang đầu tiên.

Không có tiền. Sự hụt hẫng rớt đánh thịch xuống bao tử.

Cuốn sổ dày cộp chỉ toàn những hình vẽ phác thảo bằng chì than. Nhưng khi lật đến trang thứ tư, mắt thằng Khương trợn tròn, miệng há hốc đến nỗi ruồi bay vào cũng không biết.

Trên trang giấy ố vàng, là bức chân dung một thằng bé. Tóc rễ tre xù lên như tổ quạ, cái mũi hếch lên trời, và đặc biệt là nụ cười toét miệng lộ ra chiếc răng khểnh bên trái. Thằng bé trong tranh đang mặc một cái áo cộc tay sờn vai, cổ quấn hờ một mảnh vải vụn.

Đó là Khương. Chính xác đến từng nếp nhăn trên cái áo rách mà nó đang mặc trên người lúc này. Nhưng điểm rợn tóc gáy nhất nằm ở góc phải của bức tranh. Một dòng chữ viết tay bằng mực bơm màu tím, nét chữ cứng cáp, dứt khoát:

"Ngày..., tháng..., năm... Tìm thấy con rồi. Con trai, ba đã về."

Giọt nước mưa từ mép nón lá rỏ rớt xuống mu bàn tay Khương, lạnh ngắt. Ba nó mất tích trong một cơn bão biển từ hồi nó lên năm, thi thể chẳng bao giờ trôi dạt về bờ. Má đã lập bàn thờ, hàng năm vẫn cúng cơm đơm hoa mùng ba tháng bảy. Vậy thì ai vẽ bức tranh này? Ai nhận nó là con?

Gió từ sông Hàn bất chợt thổi thốc lên mái hiên, lật tung mấy trang sổ bọc da bò. Giữa những trang giấy trơn tuột, một tấm vé tàu hỏa cũ kỹ rơi lả tả xuống mặt xi măng ướt sũng. Chuyến tàu mang mã số từ một ga xép xa xôi, một nơi mà cả đời thằng nhỏ bán báo ở Đà Nẵng chưa từng nghe tên.

Khương nắm chặt cuốn sổ. Ước mơ về đôi giày Bata trắng trong phút chốc bị thổi bay, nhường chỗ cho một cơn sóng ngầm cuồn cuộn dâng trong lồng ngực. Một tiếng nấc khô khốc bật ra. Bàn tay nhỏ bé bấu chặt lấy mép bìa da, đến mức những đốt ngón tay trở nên trắng bệch. Câu chuyện cổ tích về một người cha trở về từ đại dương bắt đầu cào cấu vào tâm trí thằng bé bụi đời.

Mọi sự lựa chọn bây giờ không còn đơn giản chỉ là đi trả đồ đánh rơi để nhận tiền boa nữa.

👏 Ủng hộ tác giả
Bình luận (0)

Đăng nhập để bình luận và ủng hộ tác giả

Đăng nhập ngay
Chưa có bình luận nào. Tem ngay!