Sáng hôm sau, mặt trời ném những tia nắng gắt gỏng xuống mặt sông Hàn từ rất sớm, báo hiệu một ngày oi ả đổ lửa. Khương đứng tựa lưng vào gốc bàng già trước cửa đại lý báo khu chợ Cồn, trên tay là xấp báo mới còn thơm mùi mực in. Bán được chục tờ, đang mải đưa tay áo quệt vệt mồ hôi rịn trên trán, nó chợt nghe một tiếng huýt sáo lảnh lót vang lên từ phía ngã tư.
Một thằng nhóc đen nhẻm, mặc cái áo thun ba lỗ rộng thùng thình điệu bộ nghênh ngang bước tới. Lân sẹo. Hắn vừa đi vừa tung hứng một quả ổi ổi xanh chát ngầm, nhai trệu trạo, ra vẻ thong dong đáo để.
"Sao rồi đại ca ngã năm? Sáng bảnh mắt đã đi tuần tra địa bàn rứa?" Khương toét miệng cười, ném cho bạn một tờ báo ế.
Lân sẹo chụp lấy tờ báo, cuộn tròn lại làm cái ống nhòm dòm dòm quanh quất, rồi ghé sát tai Khương nói nhỏ: "Tuần tra cái mốc xì. Tau mang tin tình báo tới cho mi đây. Thu dọn đồ nghề đi, bữa nay cho mi nghỉ bán một bữa. Đại ca có manh mối rồi!"
Mắt Khương sáng rỡ lên như đèn pha ô tô. Nó lật đật giấu xấp báo vào một cái thùng các-tông rỗng dưới gầm sạp tạp hóa của dì Bảy, rồi kéo tuột Lân sẹo ra góc khuất sau lưng chợ.
"Mi kiếm ra ông nội đó rồi hả? Ở ga tàu hay bến xe?" Khương chộp lấy vai bạn, hỏi dồn.
Lân sẹo lắc đầu, hất hàm ra vẻ bí hiểm. Hắn lôi từ trong cạp quần ra cuốn sổ bọc da bò quen thuộc, cẩn thận lật lật mấy trang. "Tau không kiếm ra người, nhưng tao kiếm ra cái hang của ổng. Hôm qua mang sổ về, tau nằm trằn trọc không ngủ được, cứ dòm dòm cái bìa. Mày tinh mắt ngó kỹ mép bìa coi."
Khương chụm đầu vào, nheo mắt nhìn theo ngón tay cái nứt nẻ của Lân. Dưới lớp da bò bọc ngoài lề mép gáy, có một chỗ hơi phồng lên bất thường. Lân sẹo rút trong túi quần ra một cái nhíp nhổ râu mà hắn chôm được của ông thợ hớt tóc, tỉ mẩn cạy nhẹ lớp keo dán đã ố vàng. Một mảnh giấy pơ-luya mỏng tang, gập tư nhỏ xíu rơi ra lòng bàn tay hắn.
Trái tim Khương đập thình thịch. Mảnh giấy nhàu nhĩ, trên đó có ghi nguệch ngoạc một dòng địa chỉ bằng mực bút bi xanh: Số 42bis, đường Lê Lợi. Giàn hoa giấy đỏ.
"Lê Lợi? Khu đó toàn biệt thự của mấy quan Tây hồi xưa để lại mà mi?" Khương nuốt nước bọt. "Ba tau... à không, cái ổng họa sĩ đó ở trong đó hả?"
"Thì tới đó thám thính mới biết được. Hang hùm nọc rắn gì thì anh em mình cũng phải chui vô một chuyến." Lân sẹo vỗ đét vào đùi Khương. "Đi! Bữa nay tau làm quân sư cho mi."
Đường Lê Lợi nằm trầm mặc dưới những vòm cây xà cừ cổ thụ xòe tán rợp bóng râm mát rượi. Khác hẳn với cái ồn ào vã mồ hôi của khu ngã năm hay chợ Hàn, con phố này mang một vẻ tĩnh lặng đến vắng ngắt. Hai bên đường là những dãy tường rào xây cao vút, loang lổ rêu xanh.
Hai thằng nhóc lấm lem bùn đất lầm lũi đi sát vào mép tường, ngó nghiêng tìm số nhà. Tới cuối một con hẻm cụt tĩnh mịch, tụi nó khựng lại. Căn nhà số 42bis hiện ra lù lù trước mắt.
Đó không phải là một căn biệt thự sang trọng như tụi nhỏ tưởng tượng, mà là một phế tích đang ngắc ngoải ngủ gật giữa lòng thành phố. Cánh cổng sắt đặc uốn hoa văn kiểu Pháp đã gỉ sét bong tróc thành từng mảng bã trầu. Bao trùm lên toàn bộ mặt tiền ngôi nhà là một giàn hoa giấy khổng lồ, cành lá đan xen vào nhau như một mạng nhện đỏ rực, nuốt chửng cả lối đi và che khuất nửa ban công tầng hai. Sự hoang phế bốc lên cái mùi ngai ngái của nấm mốc và gỗ mục hệt như mùi phảng phất từ cuốn sổ da bò.
"Trời đất, nhà này có ma ở chứ người nào ở." Lân sẹo khẽ rùng mình, dụi dụi mũi.
"Răng chừ? Về hả?" Khương níu vạt áo bạn. Trong bụng nó bắt đầu đánh lô tô. Chút hy vọng về một người cha hiền lành bước ra từ trang giấy tự dưng bị lu mờ trước vẻ hắc ám của căn nhà này.
"Về là về thế nào? Đã phóng lao thì phải theo lao. Mi làm thang cho tau trèo lên, chốt cửa mục hết rồi." Lân sẹo dứt khoát.
Khương ngoan ngoãn ngồi xổm xuống, đan hai bàn tay lại làm bệ đỡ. Lân sẹo đạp chân lên, nhẹ nhàng đu người bám vào mép tường gạch lở lói, rồi lách mình qua những cành hoa giấy đầy gai nhọn, tọt vào trong. Lát sau, có tiếng lách cách mở chốt sắt, cánh cổng nặng nề hé ra một khe hở vừa đủ cho Khương lách vào.
Khoảng sân gạch Bát Tràng phía trong bị cỏ dại mọc cao lút đầu gối nuốt chửng. Một cây nhãn cổ thụ đứng chơ vơ giữa sân, rễ đâm tua tủa làm nứt nẻ nền xi măng. Cả hai rón rén bước đi, cố gắng không đạp lên những cành khô gãy vụn. Mọi thứ tĩnh lặng đến mức Khương có thể nghe rõ tiếng nhịp tim mình đang đập thình thịch liên hồi bên tai.
Căn biệt thự có vẻ như bị bỏ hoang từ rất lâu, cửa gỗ đóng im ỉm. Tuy nhiên, khi tụi nó vòng ra phía hông nhà, chỗ có hàng hiên chạy dọc mép vườn, Lân sẹo bỗng giơ tay ra hiệu dừng lại.
Từ khe hở của một cánh cửa chớp đã gãy mất vài nan gỗ, có một luồng sáng đục ngầu lọt ra ngoài, kèm theo tiếng ho khan đặc sệt đờm rãi của một người đàn ông lớn tuổi.
Lân sẹo và Khương áp lưng vào bức tường vôi lở, nín thở. Khương he hé mắt dòm qua khe cửa gỗ.
Bên trong là một căn phòng rộng thênh thang nhưng bừa bộn và tối tăm như một cái hầm mộ. Mùi khói thuốc lá khét lẹt quyện với mùi ẩm mốc xộc thẳng vào mũi. Giữa phòng, một bóng người đàn ông gầy gò, tóc dài hoa râm rối bù đang ngồi ủ rũ trên chiếc sô-pha bọc nhung đã thủng lỗ chỗ. Xung quanh ông ta vứt lỏng chỏng những giá vẽ vỡ nát, cọ vẽ gãy gập và vài tuýp màu khô khốc.
Ông ta có phải là người đã vẽ Khương không? Khương cố nheo mắt nhìn cho rõ khuôn mặt dưới ánh sáng lờ mờ. Có một chút quen thuộc, một nét u buồn nào đó toát ra từ đôi vai gầy guộc ấy.
Nhưng ông ta không ở một mình.
Đứng chống nạnh đối diện với ông già là hai gã đàn ông lực lưỡng. Một gã mặc áo sơ mi phanh ngực, để lộ hình xăm một con râu quấn quanh bắp tay mập mạp. Gã còn lại đội mũ cối sụp che nửa mặt, tay lăm lăm một thanh sắt ngắn.
Xoảng!
Một tiếng động chát chúa vang lên khiến hai thằng nhóc bám ngoài cửa chớp giật bắn mình. Gã xăm trổ vừa thẳng chân đá bay cái gạt tàn thuốc bằng pha lê xuống sàn nhà, vỡ tan tành.
"Ông Trịnh! Ông đừng có giở trò câu giờ với tụi này!" Giọng gã xăm trổ ồm ồm, khàn đục như tiếng cọ xát của hai mảnh kim loại rỉ. "Bọn tao không rảnh háng lặn lội từ Sài Gòn ra cái xó khỉ ho cò gáy này để xem ông diễn tuồng bệnh tật. Anh Bảy đã cạn kiên nhẫn rồi."
Người đàn ông tên Trịnh ho rũ rượi, ôm lấy lồng ngực gầy nhom. Ông thều thào, giọng nói yếu ớt nhưng đầy vẻ cam chịu: "Tôi đã nói với các cậu rồi... Nó không có ở đây. Tôi không mang bức tranh đó về Đà Nẵng..."
"Nói láo!" Gã đội mũ cối sấn tới, nắm lấy cổ áo lôi tuột ông Trịnh đứng dậy. "Ông tưởng anh Bảy là con nít lên ba hả? Bức 'Bến sương mù' là cổ vật trị giá cả chục ngàn đô. Đợt trước ở Đà Lạt, ông nẫng tay trên của bọn tao rồi lặn mất tăm. Tụi tao biết tỏng ông giấu nó ở đâu đó trong cái thành phố này. Giao ra đây, nếu không muốn cái mạng già này nát vụn như cái gạt tàn kia!"
Khương bấu chặt lấy thành cửa chớp, móng tay cắm sâu vào lớp gỗ mục. Cú xoáy tâm lý ập đến bất ngờ như một gáo nước lạnh buốt tưới ụp xuống đỉnh đầu nó.
Bức tranh? Cổ vật chục ngàn đô? Săn lùng?
Những từ ngữ xa lạ và đầy sùi bọt mép của thế giới giang hồ chém giết đập liên hồi vào màng nhĩ thằng bé bán báo. Thế giới của nó vốn dĩ chỉ xoay quanh mấy tờ giấy lộn, đôi giày Bata của bé Cát, tô mì Quảng Phú Chiêm, và một niềm tin trong veo về người cha đi biển trở về. Vậy mà giờ đây, cái người đàn ông tự nhận là "Ba" trong cuốn sổ kia lại hiện hình là một kẻ trộm tranh cổ, đang bị bọn xã hội đen săn đuổi gắt gao.
"Tôi... tôi thật sự... đã gửi nó đi rồi." Ông Trịnh thều thào, mặt tái nhợt đi vì nghẹt thở khi bị siết cổ áo. "Tôi gửi cho một người... một người an toàn nhất."
"Là ai? Ở đâu?" Gã xăm trổ gằn giọng.
"Tôi không nói. Các người có giết tôi, tôi cũng không nói..." Ông Trịnh nhắm nghiền mắt lại.
Gã mũ cối hất mạnh ông Trịnh văng ngược xuống ghế sô-pha. Gã rút từ trong túi quần ra một con dao bấm, lách cách bật lưỡi dao sáng loáng.
"Giết ông thì lấy ai chỉ chỗ giấu bức tranh? Khôn hồn thì khai ra nhanh. Tụi tao cho ông ba ngày. Đúng ba ngày nữa, nếu không thấy bức 'Bến sương mù' đặt trên cái bàn này, thì cái tay phải cầm cọ vẽ của ông sẽ lìa khỏi thân. Và đừng hòng mà trốn! Đàn em của anh Bảy đã bao vây cái xứ Đà Nẵng này rồi."
Gã xăm trổ nhổ toẹt một bãi nước bọt xuống sàn, quay ngoắt người bước ra phía cửa. "Đi! Cho lão già này nhịn đói vài hôm xem cái miệng lão có mở ra được chữ nào không."
Tiếng bước chân nện uỳnh uỵch trên nền gỗ bước ra phía cửa chính. Lân sẹo tái xanh mặt mày, vội vàng kéo cổ áo Khương lôi thùi lụi vào nép sau một bụi chuối rậm rạp cạnh hàng rào. Tụi nó thu mình lại thành hai cục tròn vo, nín thở đến mức phổi như muốn nổ tung.
Cánh cổng sắt rít lên kèn kẹt, hai bóng đen lầm lũi đi ra rồi khuất dần sau con hẻm.
Bầu không khí lại rơi vào một sự tĩnh lặng đến rợn người, chỉ còn tiếng lá chuối khô xào xạc cọ vào nhau. Khương ngồi bệt xuống đám cỏ dại ướt đẫm sương mù buổi sớm, hai chân run lẩy bẩy không đứng nổi nữa. Nó nhìn Lân sẹo. Thằng giang hồ nhí cũng đang lau mồ hôi hột túa ra trên trán, cái vẻ nghênh ngang lúc nãy bay biến đi đâu sạch bách.
"Má ơi..." Lân sẹo nuốt nước bọt cái ực. "Ba... ba mi là dân buôn đồ cổ chuyên nghiệp bị giang hồ chém mướn săn lùng hả Khương tấu? Chơi lớn rứa ai chơi lại..."
Khương không trả lời. Trong đầu nó đang nổ ra những tiếng bom rền vang. Ông Trịnh không phải là ngư dân. Ông ta không phải là người đàn ông da sạm nắng biển trong ký ức chắp vá của má. Ông ta là một họa sĩ, một kẻ mang theo mớ rắc rối chết người.
Thế nhưng, tại sao ông ta lại vẽ hình Khương? Tại sao lại gọi nó là con trai? Và tại sao, giữa lúc mạng sống treo lơ lửng trên sợi tóc, ông ta lại đánh rơi cuốn sổ bọc da bò chứa bức chân dung ấy ngay trước mặt nó ở hiên bưu điện?
Một ý nghĩ lóe lên trong đầu Khương, rùng rợn và lạnh lẽo tựa như con thạch sùng vừa bò vắt ngang qua gáy. Bức tranh "Bến sương mù" trị giá chục ngàn đô kia... ông ta nói đã gửi cho một "người an toàn nhất". Liệu sự xuất hiện của cuốn sổ, bức chân dung, và cái bóng dáng thân thuộc kia, có phải là một sự sắp đặt tàn nhẫn nào đó để lôi kéo gia đình nó vào mớ bòng bong này không?
Gió từ cửa biển thổi dạt vào đường Lê Lợi, hất tung mớ hoa giấy rụng đỏ ối dưới chân hai đứa trẻ. Căn biệt thự chìm trong một sự câm lặng đầy u uất. Vòng xoay dấn thân đã đưa Khương đi quá xa ranh giới của một đứa trẻ ngoan lượm được của rơi. Bánh xe của số phận đã bắt đầu nghiến những vòng gai góc đầu tiên, cuốn cả thế giới nhỏ bé nghèo khó của nó vào một cơn lốc không thể nào lường trước. Mọi sự bình yên đã thực sự khép lại ở ngay giây phút nó đứng dậy khỏi bụi chuối này.
Đăng nhập để bình luận và ủng hộ tác giả
Đăng nhập ngay