Đêm đó, sau khi tiền chia xong, ai nấy cất phần mình vô túi rồi nằm xuống, cái xe chở đoàn tự nhiên im hẳn. Mấy đêm ế thì buồn kiểu khác, buồn thấy rõ, còn đêm đông khách xong rồi mà im như vầy mới nặng. Hồi nãy còn đèn sáng, người đứng chật trước sân khấu, tiếng cười tiếng hô dậy cả bãi chợ, vậy mà lui vô đây một cái là chỉ còn tiếng gió lùa qua mé bạt, tiếng ai đó trở mình, rồi im. Hồng Phấn ngồi ở mép xe, cái khăn còn dính son với phấn vò gọn trong tay. Gió ngoài bãi đất thổi vô làm mấy sợi tóc trước trán lay nhẹ. Mấy bóng đèn cuối chợ đã tắt gần hết, xa xa chỉ còn vài đốm lửa thuốc lá chập chờn rồi cũng mất. Linh với con Thắm ngủ trước, Bảy Loan còn trở mình mấy cái rồi cũng nằm im. Ông bầu ngồi tựa lưng vô bao tải đạo cụ, chắc mệt quá nên ngủ gục hồi nào không hay. Chỉ còn mình Hồng Phấn còn thức. Cũng không phải cô không mệt. Chỉ là có những đêm mệt quá, người ta nhắm mắt không được, hễ nằm yên là chuyện cũ từ đâu nó lục đục bò về.
Cái kiểu quá khứ quay lại nhiều khi không dữ dội gì. Nó không ập tới đột ngột, cũng không làm người ta đau nhói liền. Nó chỉ men theo một khoảng ký ức, theo mùi phấn còn dính trên khăn, theo cái nhức âm ỉ ở hai bàn chân sau mấy giờ đứng dưới đèn, theo cái cảm giác hồi nãy bao nhiêu con mắt đổ vô mình, giờ lui vô đây chẳng còn ai nhìn nữa. Hồng Phấn cúi xuống nhìn bàn tay mình. Mấy ngón tay vẫn thon, nhưng gân xanh đã lộ hơn trước, sơn móng ở đầu ngón cũng sứt đi vài chỗ. Nhìn vậy tự nhiên cô nhớ tay má mình hồi xưa, lúc nào cũng có mùi hành phi, mùi cá, mùi xà bông giặt đồ. Tay má thô mà vuốt tóc con lại mềm. Chỉ cần cái nhớ đó chạm vô thôi là chuyện cũ mở ra một lượt.
Hồi đó cô chưa có tên Hồng Phấn. Cái tên này là đời sau, là cái tên bước lên sân khấu người ta gọi, là cái lớp son phấn khoác vô rồi riết thành quen. Hồi đó ở nhà, cô là thằng Út. Cái tên con trai đó càng lớn cô càng nghe không lọt tai. Nhiều bữa đang ngồi trong nhà, nghe ai ngoài sân gọi lớn một tiếng, bụng đã nhói lên trước rồi. Nó không phải cảm giác mình được gọi, mà là mình phải quay đầu trả lời giùm cho một đứa nào khác đang ở trong cái thân này. Nhà cô nằm cuối xóm, trước sân trồng mấy bụi chuối, phía sau là con mương nhỏ. Mái tôn cũ, trưa nắng thì nóng hầm hập, mưa xuống là gõ lộp bộp tới khuya. Nhà nghèo, cha đi làm mướn, má buôn bán lặt vặt, mấy anh em chen chúc nhau mà lớn. Thiếu đủ thứ, nhưng hồi đó cô vẫn nghĩ chỗ đó là nhà, mà đã là nhà thì kiểu gì cũng có chỗ cho mình quay về. Hồi nhỏ ai chẳng tin vậy. Cứ nghĩ mình ngoan, mình ráng vừa ý cha mẹ thì rồi mọi chuyện cũng êm. Sau này mới biết, nhiều khi đời người xa ngã không phải vì mình hư, mà vì mình không giống cái khuôn người ta muốn.
Hồi nhỏ còn dễ giấu. Thích ngồi chơi với con gái, người ta cười cho qua, nói chắc nó hiền. Thích nhìn mấy tấm vải hoa, thích nghe cải lương, thích đứng nép ngoài cửa coi mấy chị trong xóm chải tóc, cùng lắm người lớn quở vài câu rồi thôi. Nhưng càng lớn, cái thân xác với cái lòng nó đi hai ngả, thành ra có giấu cũng không giấu hoài được. Cha cô là người ít nói. Ít tới mức bình thường trong nhà chỉ nghe tiếng dép ông ngoài sân là đứa nào đứa nấy đã nép sang một góc. Mà người ít nói thường lúc khó chịu lại càng đáng sợ. Ban đầu ông chỉ nhìn. Nhìn thật lâu, không la không mắng mà vẫn làm người ta teo lại. Sau đó mới tới mấy câu xóc hông, mấy tiếng hừ khó chịu, mấy lần quăng đũa xuống mâm chỉ vì thấy cô cầm chén, ngồi ăn, đi đứng “không ra đàn ông”. Má cô biết hết. Má biết từ bữa bắt gặp cô lén lấy cây son cũ của má quẹt thử lên môi rồi giật mình chùi đi. Má không đánh, cũng không chửi, chỉ ngồi ngoài hè rất lâu bữa đó, mắt nhìn xuống con mương trước nhà, như thể có chuyện gì đó bà hiểu mà bà không biết gọi là gì.
Mấy năm sau, cô sống trong nhà như đi trên lớp băng mỏng. Nói phải lựa lời. Đi phải lựa dáng. Cười cũng phải nén lại. Cái thích mặc đồ mềm, thích nghe mấy bài ca buồn, thích ngồi lâu bên má trong bếp, tất cả đều thành những thứ phải giấu. Có bữa chiều chỉ có hai má con, cô ngồi lặt rau, má hỏi rất nhỏ: “Con tính sống kiểu này hoài sao?” Hồng Phấn lúc đó chỉ cúi đầu, tay vẫn bẻ rau mà không trả lời được. Không phải không muốn nói, mà chính cô cũng không biết trả lời sao. Kiểu này là kiểu nào. Nếu lòng người mà đổi dễ như thay cái áo chắc cô đã đổi từ lâu rồi. Đằng này nó cứ là nó, càng đè xuống càng đau.
Từ đó cô ra khỏi nhà nhiều hơn. Ban đầu là đi phụ quán, kiếm chuyện cho bớt ngột ngạt. Sau nữa là hễ nghe xóm gần có gánh hát, có hội chợ, có đoàn lô tô về là kiếm cớ lảng ra đó. Cái thế giới ngoài kia làm cô choáng. Đèn sáng, nhạc lớn, người ta cười nói, ăn mặc rực rỡ, có những người chỉ cần bước ra sân khấu thôi là cả đám đông đã dồn mắt nhìn. Trong đám đó có những người giống mình, hoặc ít ra cô cảm được họ có cái gì đó gần mình lắm. Vừa chênh chao vừa lì, vừa mềm vừa gan. Lần đầu tiên thấy một người rao lô tô mặc áo dài đỏ, môi son đậm, đứng giữa bãi chợ cười mà cả đám người ở dưới ngó lên, cô đứng chết trân dưới bóng cây mà nhìn. Không phải mê theo kiểu con nít mê hát. Là ngỡ ngàng. Cô không ngờ trên đời lại có một chỗ cho người ta sống khác đi ngay trước mắt thiên hạ như vậy. Từ bữa đó, hễ đâu có đoàn về là cô kiếm đường đi.
Rồi chuyện gì tới cũng tới. Xóm nhỏ, miệng người truyền tai nhau nhanh lắm. Mấy lời ra vô rồi cũng tới tai cha cô. Có bữa ông lôi cô vô nhà, đóng cửa cái rầm, không đánh nhưng nói từng câu nặng như ném đá. “Mày muốn làm nhục mặt tao hả?” “Mày muốn để thiên hạ chỉ vô cái nhà này mà cười hả?” “Sống kiểu đó thì chết quách cho rồi.” Hồng Phấn đứng im, cắn môi tới bật cả máu. Không phải gan lì gì. Chỉ là cô biết, hễ mở miệng ra là thế nào cũng khóc. Mà đã khóc thì ông càng ghét hơn. Khổ nhất là bị ghét ngay trong nhà mình. Tới nước mắt rơi cũng phải lựa lúc.
Ngày bị đuổi ra khỏi nhà là một buổi chiều nắng gắt. Hồng Phấn nhớ rất rõ. Nắng đổ trắng sân, mấy tàu chuối đứng im không nhúc nhích, trời cứ hầm hập như sắp giông mà không chịu mưa. Sáng bữa đó không biết ngoài chợ ai nói gì, cha cô về sớm, mặt đỏ gay. Vừa vô tới nhà ông quăng cái nón xuống bàn. Ông không hỏi một câu, cũng không cho cô nói gì. Chỉ nhìn cô rất lâu, cái nhìn lạnh ngắt, rồi chỉ tay ra cổng, nói một câu gọn bâng: “Muốn sống kiểu đó thì đi khỏi nhà tao.”
Tới giờ Hồng Phấn vẫn nhớ nguyên cái câu đó. Không phải vì nó lạ, mà vì nó gọn quá, dứt quá. Có những thứ giết người ta không phải vì nói nhiều, mà vì nó không chừa cho mình chút đường nào để năn nỉ. Má cô đứng trong bếp, tay còn cầm cái vá. Hai đứa em nép vô vách. Nước trên bếp sôi lục bục. Cô đứng giữa sân, chân như cắm xuống đất. Trong bụng chỉ nghĩ, giá như ông đánh một trận còn đỡ. Chửi thêm mấy câu cũng được. Đánh chửi thì còn là người nhà. Còn đuổi đi như vậy, nghĩa là từ giây phút đó mình không còn cái để gọi là nhà nữa.
Cô vô buồng lấy cái túi vải cũ, nhét vài bộ đồ vô, thấy cái khăn má thường đưa cho mình hồi nhỏ thì cầm luôn, cũng không hiểu sao lúc đó lại cầm theo. Từ đầu tới cuối, má không nói tiếng nào. Chính cái im đó mới làm Hồng Phấn đau lâu hơn mọi lời mắng. Cô biết má thương, nhưng má không dám giữ. Giữ là cãi cha, mà cãi thì cái nhà này còn nát hơn nữa. Biết là vậy, mà vẫn đau. Vì nhiều khi đời người chỉ cần một câu rất nhỏ thôi, như “thôi ở lại đi con” hay “để má nói với ổng”, là đủ cho mình tin mình vẫn còn thuộc về đâu đó. Bữa đó không có.
Ra tới cổng, cô quay đầu lại một lần. Má vẫn đứng ở cửa bếp, không bước ra. Cha quay mặt đi. Mấy đôi dép để lộn xộn trước hiên. Cái lu nước nằm im. Con chó dưới gốc chuối ngẩng đầu nhìn một chút rồi lại nằm xuống. Mọi thứ vẫn y như mọi ngày, chỉ có điều từ lúc đó trở đi nó không còn là của cô nữa. Hồng Phấn bước đi. Bước đầu tiên nặng như dính đất. Ra tới đầu xóm, cô quay lại thêm lần nữa. Căn nhà đã khuất sau hàng cây một nửa. Không ai chạy theo. Không ai gọi. Cái cảm giác đó nhiều năm sau nghĩ lại vẫn còn nguyên. Như có ai móc trong ngực mình ra một khoảng rồi để trống vậy đó.
Những ngày sau đó cô sống kiểu cầm chừng. Ngủ nhờ chỗ này một bữa, chỗ kia một đêm. Có lúc rửa chén cho quán đổi lấy bữa cơm. Có lúc theo người ta đi phụ dựng sân khấu để tối có chỗ nằm sát bên mấy tấm phông cũ. Chính quãng đó cô gặp Nam.
Nam không phải kép hát, cũng không phải người của đoàn. Anh đi theo mấy gánh hội chợ làm đủ việc lặt vặt: kéo dây điện, chằng phông, chở đồ, xếp ghế, hư đâu vá đó. Người sạm nắng, vai rộng, tay thô. Mặt không phải kiểu đẹp trai làm người ta quay đầu nhìn, nhưng có đôi mắt hiền. Cái hiền đó hiếm lắm. Lần đầu nói chuyện, anh chỉ hỏi có một câu: “Ăn cơm chưa?” Câu đó nghe qua chẳng có gì, nhưng với một đứa vừa bị đuổi khỏi nhà, đang sống co cụm vì sợ tủi thân, nó khác lắm. Nó không phải kiểu săn đón cho vui. Nó giống như ai đưa cho mình một cái ghế ngồi tạm lúc mình đứng mỏi chân.
Từ bữa đó, hai người gặp nhau miết. Không hẹn mà cứ gặp. Anh thấy cô ngồi một mình thì dúi cái bánh bao, khi thì ly trà đá vô tay. Có bữa trời mưa, cả đám chưa dựng kịp bạt, cô co ro dưới mái hiên, anh mang cái áo mưa mỏng lại, nói: “Mặc đại đi, bệnh rồi lấy gì mà đi.” Có bữa khuya quá, ai cũng ngủ hết rồi, cô còn ngồi ngoài mé sân khấu ngó đèn tắt, anh tới ngồi cách một khoảng, không hỏi chuyện sâu, chỉ nói mấy câu vu vơ. Mà chính vì anh không moi móc gì hết nên cô mới dám kể. Ban đầu kể ít ít. Sau rồi nhiều hơn. Có một đêm, chắc vì mệt quá hay vì thấy tin được, cô kể hết chuyện bị đuổi khỏi nhà. Kể xong ngồi im, tưởng anh sẽ an ủi hay thương hại gì đó. Nhưng anh chỉ ngồi một hồi rồi nói: “Hết chỗ về thì thôi sống cho đàng hoàng. Đừng để người ta nói mình nữa.” Câu đó không bóng bẩy, không ngọt, mà nghe xong cô khóc. Lần đầu tiên sau mấy tháng trời, cô khóc trước mặt người khác mà không thấy nhục.
Nam thương cô kiểu ít thấy. Không nói hay, không hứa nhiều, nhưng có mặt lúc cô yếu nhất. Có bữa cô sốt nằm bẹp sau đống đạo cụ, anh đi mua thuốc rồi ngồi canh tới khuya. Có bữa cô bị mấy thằng say trong chợ chọc ghẹo, anh xông ra đẩy tụi nó rồi bị đánh sưng cả khóe miệng. Có lần cô đứng sau sân khấu, nhìn mấy người con gái mặc áo đẹp đi ngang mà chạnh lòng, nói rất nhỏ là chắc đời mình rồi cũng chỉ vậy thôi, anh quay qua bảo: “Vậy là vậy sao? Sống được, ăn được, còn cười được là hơn khối người rồi.” Nói nghe mộc lắm, mà bữa đó cô tin. Tin tới mức lần đầu tiên từ khi bị đuổi khỏi nhà, cô dám tưởng tượng ra một ngày sau này mình sẽ có một nới gọi là nhà.
Tình của hai người không có hoa hòe gì. Không quà cáp, không thề non hẹn biển. Nó lớn lên bằng cái bánh chia đôi, bằng mấy bữa ngồi nhìn người ta dọn chợ, bằng những chiều anh ngồi vá lại quai dép cho cô, bằng câu “mệt hông” nói rất thiệt. Có một đêm đoàn về diễn sát mé sông, trăng sáng, dọn xong sân khấu rồi hai người ngồi trên mấy tấm ván chưa kịp hạ. Gió thổi qua tóc, Nam nói nhỏ: “Mai mốt ráng dành dụm, kiếm cái quán nước nhỏ sống qua ngày cũng được.” Chỉ nhiêu đó thôi mà Hồng Phấn ngồi im rất lâu. Cái ước mơ đó nhỏ xíu, nghe còn buồn, mà với cô lúc đó nó đẹp lắm. Tại lần đầu tiên có người nói chữ “mình” mà tính tới ngày sau.
Nhưng đời người như cô làm gì yên lâu. Nhất là những người đã từng bị hất ra ngoài lề. Nam bắt đầu vắng dần. Ban đầu là đi làm xa vài bữa. Sau đó là ít ghé. Rồi ít nói. Mỗi lần gặp, mắt anh không còn nhìn thẳng nữa. Hồng Phấn hỏi thì anh nói bận. Bận riết rồi xa. Xa riết rồi lạnh. Cho tới bữa cô nghe người ta nói ngoài miệng là nhà anh sắp cưới vợ cho anh ở quê. Cái tin đó không đập vô mặt. Nó chỉ làm chân cô lạnh từ dưới lên. Tối hôm đó cô vẫn lên sân khấu, vẫn cười, vẫn rao, vẫn nói tròn câu như không có gì. Diễn xong rồi cô mới đi tìm anh. Không phải để níu. Chỉ muốn nghe chính miệng anh nói một câu.
Nam ngồi sau xe chở đồ, mắt nhìn xuống đất. Hồng Phấn đứng trước mặt một hồi lâu mới hỏi được: “Thiệt hông?” Anh im. Im lâu tới mức cô hiểu cái im đó chính là câu trả lời rồi. Một lúc sau anh mới nói nhỏ: “Nhà anh hổng chịu.” Hồng Phấn cười. Cái cười méo đi, nghe chính mình còn thấy đau. “Nhà anh hổng chịu, hay anh hổng dám?” Nam vẫn cúi đầu. Không cãi. Không nói thêm. Chỉ có cái im đó thôi mà giết sạch những gì trước đó. Nếu anh cãi, cô còn có cái để giận. Đằng này anh nhận phần hèn của mình bằng cách im. Mà cái im của đàn ông nhiều khi đau hơn cả lời từ chối.
Hồng Phấn không khóc trước mặt anh. Cô chỉ đứng thêm một chút rồi quay lưng đi. Cái quay lưng đó khác bữa bị cha đuổi ra khỏi nhà, vì lần này không ai đuổi. Nhưng cái đau thì cũng vậy. Một lần là mất nhà. Một lần là mất người để tin. Hai lần đều là đứng trước một chỗ mình tưởng sẽ bước vô được, rồi rốt cuộc bị bỏ lại ngoài cửa.
Từ sau Nam, Hồng Phấn không còn nghĩ tới chuyện dừng lại nữa. Cô sống hẳn vô cái nghề này như người ta chui ra chui vô chỗ trú mưa, ở riết rồi mưa tạnh cũng không biết đi đâu. Cô học cách cười cho đúng lúc, nói cho đúng nhịp, đứng cho thẳng dưới ánh đèn, dù trong lòng có chỗ đã sập từ lâu rồi. Cũng từ đó cô nhớ một điều: không phải ai chìa tay ra với mình cũng giữ mình lại tới cùng. Với hạng người như cô, thương sâu thường cũng là đau sâu, vì mình đưa hết mà bên kia chỉ dám cầm có nửa bàn tay.
Ngồi trong đêm khuya, sau lưng một đêm diễn đông khách, Hồng Phấn nghe tiếng Linh trở mình phía trong, nghe gió đi qua bãi đất trống, tự nhiên thấy cái đời mình dài quá. Dài từ cái sân nhà năm đó cho tới cái xe chật này bây giờ, đi qua bao nhiêu đêm ánh đèn, bao nhiêu tiếng cười, mà rốt cuộc cái còn lại vẫn là cảm giác không có chỗ nào thiệt sự là của mình. Cô cúi xuống nhìn chiếc khăn tẩy trang trong tay, chỗ son đỏ dính trên đó đã sẫm lại. Cô vo khăn lại, để qua một bên rồi chui vô trong nằm xuống, quay lưng ra phía cửa xe. Như thể quay lưng vậy thì gió, đêm và mấy chuyện cũ kia cũng đứng lại ở ngoài. Nhưng chuyện đã sống qua rồi đâu phải cứ quay mặt đi là hết nhớ. Nó nằm im đó thôi, sâu hơn, lặng hơn, như cái gai nằm trong thịt. Bữa nào trái gió thì nhức. Bữa nào yên yên thì tưởng lành rồi. Thiệt ra chưa bao giờ lành hẳn.
Đăng nhập để bình luận và ủng hộ tác giả
Đăng nhập ngay