Đêm đó, cả Trần Phàm và Thôi Bình quyết định không ra khỏi phế tích, dù không một ai trong số họ nói thành lời rõ ràng về quyết định này. Việc ra ngoài rồi quay lại sẽ buộc cả hai phải vượt qua lớp trận pháp thứ hai một lần nữa, một rủi ro không cần thiết khi đã tìm được cách đi qua an toàn một lần, không có lý do gì để thử thách may mắn thêm một lần nữa chỉ để rồi phải lặp lại quá trình đó vào sáng hôm sau.
Họ ở lại ngay trong khu vực hành lang gần cánh cửa đá, mỗi người chọn một góc riêng để nghỉ ngơi tạm thời. Không có một thỏa thuận cụ thể nào được trao đổi bằng lời về việc ai sẽ canh gác và ai sẽ nghỉ trước, nhưng qua những cử chỉ nhỏ — Thôi Bình ngồi xuống, nhắm mắt trước, còn Trần Phàm vẫn giữ tư thế tỉnh táo, tiếp tục quan sát xung quanh — một sự phân chia tự nhiên hình thành, không cần phải thảo luận.
Đây không phải là một sự tin tưởng tuyệt đối giữa hai người. Trần Phàm hiểu rõ điều đó, và hắn tin rằng Thôi Bình cũng hiểu theo cách tương tự. Nhưng cả hai đều là những người đủ thực dụng để nhận ra, trong một môi trường nguy hiểm và xa lạ như Thượng Cổ Trạm, việc phối hợp tối thiểu với một người khác, dù không hoàn toàn tin tưởng, vẫn mang lại lợi ích lớn hơn so với việc mỗi người tự mình đối mặt với mọi nguy cơ một cách đơn độc, không có ai để cảnh báo nếu có bất cứ điều gì bất thường xảy ra trong lúc ngủ.
Khoảng nửa đêm, theo cách tính thời gian tương đối dựa trên cảm nhận cá nhân chứ không có gì chính xác hơn trong không gian khép kín này, Thôi Bình tỉnh lại, ra hiệu nhẹ cho Trần Phàm biết ông sẽ tiếp tục canh gác, để hắn có thể nghỉ ngơi một khoảng thời gian. Trần Phàm gật đầu, không phản đối, ngồi dựa vào một góc tường, để cho cơ thể chìm vào một trạng thái nghỉ ngơi nhẹ, không hoàn toàn sâu, vẫn giữ một phần ý thức cảnh giác thường trực.
Sáng hôm sau, khi ánh sáng yếu ớt từ những khe nứt trên trần bắt đầu trở nên rõ rệt hơn một chút, báo hiệu mặt trời đã lên cao bên ngoài, Thôi Bình ngồi dậy, lấy lại cuộn giấy cũ từ đêm trước, mở ra trước mặt, rồi gọi Trần Phàm lại gần.
"Ta nghĩ ra được một điều." Ông ta nói, giọng có vẻ phấn khích nhẹ, một sự thay đổi so với tông giọng đều đều thường thấy trước đó.
Trần Phàm bước tới gần, ngồi xuống đối diện, chờ đợi.
"Trận pháp trong phế tích này," Thôi Bình tiếp tục, chỉ tay vào những ghi chép trên cuộn giấy của mình, "không thuộc về bất cứ hệ thống trận đạo nào ta từng học, hay từng nghe qua bất cứ tông phái lớn nào trong thời đại hiện tại. Nhưng ta đã từng đọc qua một vài tài liệu cổ, rất hiếm, nói về một thứ được gọi là Tiền Đại Trận Văn."
"Tiền Đại Trận Văn?" Trần Phàm lặp lại, một thuật ngữ hoàn toàn mới mẻ đối với hắn.
"Trận văn tồn tại từ trước khi các quy tắc trận đạo hiện đại được hệ thống hóa và chuẩn hóa lại." Thôi Bình giải thích, giọng chậm hơn, như đang cố gắng sắp xếp lại trong đầu những hiểu biết rời rạc mà ông đã tích lũy qua nhiều năm. "Ngôn ngữ Linh Tuyến của nó khác — cách khắc, cách bố trí, những biểu tượng dùng để đánh dấu các điểm nút quan trọng, tất cả đều khác so với những gì người tu luyện hiện nay quen thuộc. Nhưng nguyên lý nền tảng về cách linh khí được dẫn dắt, được kiểm soát, vẫn không thay đổi — chỉ là cách diễn đạt nguyên lý đó đã trải qua một sự tiến hóa rất lớn qua hàng ngàn năm."
Trần Phàm ngồi yên, để cho thông tin đó dần thấm vào trong đầu, và đột nhiên, một sự kết nối bất ngờ hiện ra rõ ràng trong tâm trí hắn, một thứ mà hắn chưa từng nghĩ tới trước đây dù đã có không ít manh mối liên quan suốt nhiều năm qua.
Những mảnh trận bài "lệch lạc," những mảnh mà Trần Phàm từng nhặt được từ thùng rác của Trận Pháp Đường tại Hàn Thị Trang trong những năm đầu tự học, những mảnh mà ngay cả các Trận sư có kinh nghiệm cũng coi là hỏng, là sai sót trong quá trình khắc, không tuân theo bất cứ quy luật cấu trúc nào hợp lý mà họ từng biết tới — có thể chúng không hề "lệch" theo cách hắn và mọi người vẫn nghĩ.
Có thể chúng chỉ đơn giản là tuân theo một nguyên lý cổ xưa hơn, một ngôn ngữ trận pháp đã bị quên lãng qua hàng ngàn năm tiến hóa của trận đạo hiện đại, tới mức người ta không còn nhận ra cấu trúc đó là hợp lý theo một logic khác, mà chỉ coi đó là sự hỏng hóc, là sai lầm cần loại bỏ.
"Mảnh trận bài hắn từng nhặt được," Trần Phàm nói, giọng chậm hơn bình thường, vừa nói vừa suy nghĩ kỹ hơn, "có một số mảnh, người ta coi là hỏng, không theo quy luật nào ta từng học được từ sách trận đạo hiện đại. Ta đã từng nghĩ chúng là phế phẩm thực sự, hoặc là những mảnh thử nghiệm thất bại."
Thôi Bình nhìn hắn, vẻ mặt có sự chú ý mới.
"Giờ nghĩ lại," Trần Phàm tiếp tục, "có thể chúng không lệch theo nghĩa đó. Chúng theo một nguyên lý khác mà thời hiện đại không còn nhận ra nữa."
Thôi Bình gật đầu chậm, có vẻ như đồng tình với suy luận này, dù bản thân ông cũng không có cách nào xác nhận chắc chắn một trăm phần trăm.
"Vậy thì," Thôi Bình nói tiếp, quay trở lại với vấn đề trước mắt, "nếu trận pháp này thuộc về Tiền Đại Trận Văn, và ngươi đã từng tiếp xúc với một số mảnh có cùng nguyên lý cổ xưa đó, dù không nhận ra điều đó vào lúc ấy, có lẽ ngươi có một lợi thế mà ta không có."
Trần Phàm im lặng một lúc, để cho toàn bộ những gì hắn vừa cảm nhận được từ lớp trận pháp thứ ba trước khi bị gián đoạn, kết hợp với thông tin mới từ Thôi Bình về Tiền Đại Trận Văn, dần sắp xếp lại trong đầu thành một bức tranh rõ ràng hơn nhiều so với trước.
Lớp trận pháp này, hắn nhận ra giờ đây với một sự chắc chắn cao hơn nhiều, không kiểm tra tu vi hay sức mạnh chiến đấu của người tiếp cận, đúng như những gì hắn đã suy đoán từ đầu. Nó kiểm tra một thứ khác hoàn toàn — khả năng "đọc" được Tiền Đại Trận Văn, khả năng hiểu được nguyên lý cổ xưa đang được dùng để giao tiếp qua những dao động linh khí mà nó phát ra.
Cụ thể hơn, trận pháp phát ra một chuỗi dao động theo đúng ngôn ngữ cổ đó, và người tiếp cận cần phản hồi lại một cách chính xác — không phải theo nghĩa học thuộc một câu trả lời cố định đã được lập trình sẵn từ trước, mà theo nghĩa hiểu được nguyên lý nền tảng đủ sâu để có thể tự mình ứng biến, tạo ra một phản hồi phù hợp với logic của hệ thống đó, giống như một người thực sự hiểu một ngôn ngữ có thể tự sáng tạo ra câu nói mới, không chỉ lặp lại những câu đã học sẵn.
Lần thử nghiệm trước đó của Trần Phàm, khi hắn cố gắng mô phỏng chính xác tần số dao động mà trận pháp phát ra để phản hồi lại, dù đã có một số tiến triển nhỏ, thực chất chỉ là một dạng bắt chước máy móc, không phải là một sự hiểu biết thực sự về nguyên lý nền tảng đằng sau ngôn ngữ đó. Đó là lý do tại sao tiến triển đạt được lại chậm và hạn chế như vậy.
"Ta muốn thử lại." Trần Phàm nói, đứng dậy, bước về phía cánh cửa đá lớn.
Thôi Bình không phản đối, chỉ đứng dậy theo, lùi lại một khoảng cách an toàn, đứng quan sát từ phía sau, không can thiệp vào quá trình của Trần Phàm.
Trần Phàm dừng lại trước cánh cửa, hít một hơi dài, để cho toàn bộ những hiểu biết mới về Tiền Đại Trận Văn lắng đọng lại trong tâm trí, kết hợp với kinh nghiệm năm năm tự nghiên cứu trận pháp của bản thân — không phải kinh nghiệm về trận đạo hiện đại theo cách hắn đã học từ cuốn Trận Pháp Nhập Môn Yếu Lược, mà là kinh nghiệm trực giác về cách những mảnh trận bài "lệch lạc" từng vận hành, những mảnh mà hắn từng dày công nghiên cứu trong những năm đầu tự học, không biết rằng mình đã vô tình tiếp xúc với một nguyên lý cổ xưa hơn rất nhiều so với những gì hắn tưởng.
Lần này, khi trận pháp phát ra dao động đầu tiên, một câu hỏi mở đầu cho cuộc đối thoại, Trần Phàm không cố gắng mô phỏng lại chính xác tần số đó như trước. Thay vào đó, hắn dừng lại một khoảnh khắc, cảm nhận sâu hơn vào cấu trúc của dao động đó, cố gắng nhận ra logic nền tảng đằng sau nó, giống như cách hắn từng dành nhiều giờ liên tục để hiểu một mảnh trận bài phức tạp không theo bất cứ quy luật hiện đại nào, không phải bằng cách học thuộc hình dạng cụ thể của nó, mà bằng cách cố gắng hiểu tại sao nó lại được tạo ra theo cách đó.
Sau khi cảm nhận đủ sâu, hắn tạo ra một phản hồi, không phải là một sự sao chép tần số ban đầu, mà là một dao động hoàn toàn khác, được hình thành dựa trên chính nguyên lý mà hắn vừa nhận ra — một sự diễn giải, không phải một sự lặp lại.
Sự khác biệt trong cảm giác là rõ rệt ngay lập tức. Lần thử trước, khi hắn chỉ cố gắng mô phỏng âm điệu mà không hiểu ý nghĩa, cảm giác giống như đang gõ vào một cánh cửa khóa kín mà không biết mật khẩu, mỗi lần tương tác chỉ mang lại một sự thay đổi nhỏ, chậm chạp, không chắc chắn.
Nhưng lần này, ngay khi dao động phản hồi của hắn vừa được phát ra, một cảm giác hoàn toàn khác xuất hiện, như đang thực sự nói chuyện với một người hiểu cùng một thứ tiếng, dù ngôn ngữ đó cổ xưa và xa lạ tới mức nào. Trận pháp dường như "nhận ra" sự khác biệt trong bản chất của phản hồi này, không còn là một sự bắt chước thô sơ, mà là một sự đối thoại thực sự dựa trên hiểu biết chung về nguyên lý.
Trần Phàm cảm nhận một sự thay đổi rõ ràng hơn nhiều so với lần trước — không phải cánh cửa đá đột ngột mở ra, điều đó vẫn chưa xảy ra, nhưng áp lực tổng thể xung quanh khu vực cánh cửa, một sự cản trở vô hình mà hắn đã cảm nhận được từ lần đầu tiên đứng tại đây, giờ đây dịch chuyển nhẹ, giảm bớt một phần, như một cánh cửa khác, vô hình hơn, đang dần được hé mở từng chút một.
Đứng phía sau, Thôi Bình quan sát toàn bộ quá trình đó, không phải bằng khả năng cảm ứng linh khí trực tiếp như Trần Phàm đang thực hiện, mà qua những biểu hiện gián tiếp khác mà ông có thể nhận ra được — sự thay đổi nhẹ trong không khí xung quanh cánh cửa, một cảm giác mơ hồ về việc một thứ gì đó đang dịch chuyển, đang thay đổi so với trạng thái tĩnh lặng tuyệt đối mà nó đã duy trì trong suốt thời gian dài trước đó.
"Ngươi làm được gì đó." Ông ta nói khẽ, giọng không mang theo sự ngạc nhiên thái quá hay một lời khen ngợi cường điệu, chỉ là một quan sát khách quan, đúng phong cách thực dụng mà cả hai người đã thể hiện với nhau từ lúc gặp mặt.
Trần Phàm không trả lời ngay, không quay đầu lại để xác nhận hay giải thích thêm với Thôi Bình. Toàn bộ sự tập trung của hắn vẫn đang dồn vào cánh cửa đá trước mặt, vào dao động phản hồi tiếp theo mà hắn cảm nhận đang dần hình thành từ phía bên trong lớp trận pháp thứ ba, một câu hỏi mới, phức tạp hơn, đang chờ đợi một câu trả lời tiếp theo từ hắn.
Đăng nhập để bình luận và ủng hộ tác giả
Đăng nhập ngay